Đóng

Nghiên cứu

Công nghiệp văn hóa ở Việt Nam: Khái niệm và định hướng phát triển

(Tóm lược theo Kỉ yếu Hội nghị Đánh giá 5 năm triển khai, thực hiện quyết định số 1755/QĐ-TTG “Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” và cập nhật các Nghị định, Thông tư, hướng dẫn liên quan đến 12 ngành công nghiệp văn hóa trong giai đoạn 2021-2025).

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0, văn hóa ngày càng được nhận diện như một nguồn lực “mềm” có vai trò quan trọng trong phát triển quốc gia. Thay vì dừng lại ở vai trò “giữ gìn bản sắc” và “nâng cao đời sống tinh thần”, văn hóa đang dần trở thành động lực trực tiếp đóng góp vào GDP, tạo việc làm và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Khái niệm công nghiệp văn hóa (CNVH) được đưa vào hệ thống chính sách Việt Nam từ đầu thập niên 2010, đặc biệt với Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030 (QĐ 1755/QĐ-TTg năm 2016). Sau hơn một thập kỷ triển khai, việc nhìn nhận lại bản chất công nghiệp văn hóa và định hướng phát triển tại Việt Nam là cần thiết để tiếp tục đồng bộ hóa với xu thế quốc tế.

Công nghiệp văn hóa là gì?

Trong quá trình dịch chuyển từ kinh tế dựa trên vật chất sang kinh tế tri thức, khái niệm công nghiệp văn hóa (CNVH) được hiểu như một cấu phần kinh tế dựa trên sáng tạo, tri thức, công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ. Tổng hợp từ các tài liệu chính thức, CNVH là sự vận dụng tiến bộ công nghệ và kỹ năng quản trị – kinh doanh để chuyển hóa năng lực sáng tạo, vốn văn hóa và vốn trí tuệ thành sản phẩm và dịch vụ văn hóa đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của xã hội. Cách hiểu này gắn CNVH với mô hình sản xuất dựa trên kiến thức và dịch vụ, vận hành bằng sáng tạo, công nghệ, kinh doanh và truyền thông, qua đó thể hiện một bước dịch chuyển từ các mô hình nông nghiệp và công nghiệp truyền thống sang hệ sinh thái sáng tạo có khả năng tạo giá trị gia tăng cao.

Với vai trò vừa là động lực kinh tế, vừa là nền tảng văn hóa – xã hội, CNVH được coi là phương thức tái cơ cấu mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, tạo việc làm và đóng góp ổn định cho nền kinh tế. Đồng thời, việc mở rộng hàng hóa và dịch vụ văn hóa trên thị trường trong nước và quốc tế còn củng cố năng lực mềm của quốc gia, bởi văn hóa khi thẩm thấu vào đời sống tiêu dùng và truyền thông sẽ trở thành một lợi thế cạnh tranh bền vững trong bối cảnh hội nhập.

Về phương diện chuẩn tắc, CNVH được đặt trong khung phát triển bền vững và chính sách đối ngoại văn hóa. Hội nghị Đánh giá 5 năm triển khai, thực hiện quyết định số 1755/QĐ-TTG “Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” nhấn mạnh: CNVH như một bộ phận của sức mạnh mềm, có khả năng thúc đẩy tăng trưởng, đổi mới và cạnh tranh; đồng thời đề nghị làm cho văn hóa trở thành một nội dung trọng yếu của thương mại và cạnh tranh quốc tế. Khi văn hóa được tổ chức như một hình thức hàng hóa, các nguồn lực văn hóa có thể được chuyển hóa thành các nguồn vốn kinh tế. Điều này hàm ý văn hóa không chỉ dừng lại ở chức năng thụ hưởng mà còn có thể được đầu tư, sinh lợi và nhân rộng hiệu ứng xã hội.

Trên bình diện phạm vi ngành, Việt Nam xác định mười hai lĩnh vực thuộc CNVH, bao gồm: Quảng cáo, Kiến trúc, Phần mềm và trò chơi giải trí, Thủ công mỹ nghệ, Thiết kế, Điện ảnh, Xuất bản, Thời trang, Nghệ thuật biểu diễn, Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và triển lãm, Phát thanh và truyền hình, Du lịch văn hóa. Danh mục này tương thích với thông lệ quốc tế nhưng vẫn phản ánh lợi thế bản địa như thủ công mỹ nghệ và du lịch di sản. Tài liệu cũng gợi mở định vị một số lĩnh vực mũi nhọn để ưu tiên chính sách và phân bổ nguồn lực phù hợp.

Tổng quát lại, CNVH ở Việt Nam được xác lập như một hệ sinh thái sản xuất, phân phối và tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ văn hóa dựa trên nền tảng sáng tạo, công nghệ và bản quyền. Hệ sinh thái này hướng tới hai đích đến song hành: Tạo tăng trưởng kinh tế đồng thời bảo tồn, phát huy bản sắc – Từ đó, gia tăng sức mạnh mềm (soft power) của quốc gia.

Định hướng phát triển công nghiệp văn hóa tại Việt Nam

Định hướng phát triển CNVH hiện nay được kiến tạo trên tầm nhìn xây dựng hệ sinh thái sáng tạo có khả năng cạnh tranh quốc tế. Tầm nhìn ấy dựa trên năm trụ cột: Hoàn thiện thể chế; phát triển nguồn nhân lực sáng tạo; đầu tư hạ tầng văn hóa và sáng tạo; thúc đẩy chuyển đổi số trên toàn bộ chuỗi giá trị; tăng cường hội nhập gắn với quảng bá. Ở cấp thể chế, các văn bản hiện hành mô tả một môi trường tương đối thuận lợi để các ngành khai thác và chuyển hóa các thành tố sức mạnh mềm thành sản phẩm, dịch vụ văn hóa có thể đo lường về mặt kinh tế; trong đó, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, minh bạch hóa thị trường và khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia giữ vai trò then chốt.

Từ khung này, CNVH được định vị như một tài sản chiến lược cho phát triển quốc gia. Một mặt, nó bảo vệ chủ quyền văn hóa thông qua việc định hình chuẩn mực thẩm mỹ, ngôn ngữ biểu đạt và bản sắc. Mặt khác, nó thúc đẩy cạnh tranh trong thương mại quốc tế nhờ khả năng tạo ra hàng hóa và dịch vụ hàm lượng sáng tạo cao. CNVH đồng thời góp phần cố kết cộng đồng, tạo việc làm có chất lượng và tiếp sức cho tái tạo đô thị khi các không gian sáng tạo trở thành hạ tầng mềm của đời sống đô thị đương đại.

Trên nền tảng lý luận đó, có thể diễn đạt ngắn gọn nguyên tắc chủ đạo: Biến văn hóa thành nguồn lực kinh tế và đồng thời giữ văn hóa như hồn cốt dân tộc – Khi hai mục tiêu này được thực thi song hành, công nghiệp văn hóa sẽ trở thành động lực phát triển bền vững. Nguyên tắc này tóm lược các luận điểm về sức mạnh mềm, ề yêu cầu thương mại hóa có trách nhiệm đối với giá trị văn hóa,  về khả năng chuyển hóa nguồn lực văn hóa thành vốn kinh tế trong bối cảnh hội nhập.

Ở cấp độ ngành, định hướng phát triển được cụ thể hóa theo logic năng lực và thị trường. Trong điện ảnh, trọng tâm là hình thành một chuỗi giá trị hoàn chỉnh từ sản xuất, phát hành đến tiêu dùng, gắn kết với du lịch và thương hiệu địa phương. Trên bình diện nội địa, cần tăng tỷ trọng phim Việt trong doanh thu phòng vé, nâng cấp cụm rạp, chuyên nghiệp hóa các khâu quảng bá và phân phối. Trên bình diện quốc tế, cần mở rộng hợp tác đồng sản xuất, đẩy mạnh tham gia liên hoan phim và xây dựng điểm đến quay phim nhằm quảng bá hình ảnh quốc gia, đồng thời tạo năng lực thu hút đầu tư cho sản xuất nội dung.

Trong nhóm quảng cáo và truyền thông số, xu hướng dịch chuyển ngân sách sang môi trường trực tuyến là tất yếu, nhưng rủi ro phụ thuộc nền tảng xuyên biên giới đòi hỏi cách tiếp cận kép: Củng cố chuẩn mực về trách nhiệm nền tảng, quản trị dữ liệu và bảo hộ bản quyền, đồng thời nuôi dưỡng năng lực nội địa thông qua đào tạo đội ngũ sáng tạo số và phát triển các công cụ, dịch vụ mang thương hiệu Việt. Mục tiêu là cân bằng cạnh tranh và giữ lại phần giá trị gia tăng trong hệ sinh thái sáng tạo trong nước.

Với du lịch văn hóa, lợi thế nổi trội của Việt Nam nằm ở sự kết hợp giữa di sản và trải nghiệm đương đại. Định hướng đặt nặng hai cấu phần: 1. Hạ tầng – không gian, chú ý đến thiết kế không gian công cộng, cảnh quan và hạ tầng mở làm “sân khấu” cho trải nghiệm văn hóa – du lịch; 2. Sản phẩm – kể chuyện tập trung xây dựng các chương trình theo chủ đề, phát triển festival và liên hoan, liên kết với điện ảnh và nghệ thuật biểu diễn để kéo dài thời gian lưu trú, tăng chi tiêu của du khách và khắc sâu bản sắc địa phương trong trí nhớ du khách.

Đối với thủ công mỹ nghệ cùng các ngành mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm, hướng đi chủ đạo là chuyển từ tiêu chí thẩm mỹ đơn thuần sang tiêu chí thương hiệu và tiêu chuẩn chất lượng. Một mặt, cần tôn vinh kỹ nghệ truyền thống và bản sắc chất liệu. Mặt khác, phải thúc đẩy thiết kế đương đại dựa trên di sản, chuẩn hóa quy trình để đáp ứng yêu cầu chuỗi cung ứng xuất khẩu, đồng thời triển khai các hoạt động xúc tiến thương mại và nền tảng phân phối số. Bên cạnh đó, việc xây dựng thương hiệu quốc gia cho một số dòng nghệ thuật đặc thù như sơn mài, hay định kỳ hóa các sự kiện như festival nhiếp ảnh, có thể nâng vị thế của sản phẩm văn hóa Việt Nam trên thị trường khu vực và quốc tế.

Trong thiết kế và thời trang, mấu chốt là hình thành hệ sinh thái không gian sáng tạo gắn với các trung tâm đô thị, liên kết mạng lưới nhà thiết kế trẻ với hệ thống sự kiện định kỳ, đồng thời đưa chất liệu truyền thống như lụa, nghề dệt và mỹ nghệ vào ngôn ngữ thiết kế đương đại để xây dựng bản sắc cạnh tranh. Cùng với đó, các tuần lễ thiết kế hoặc thời trang có thể đóng vai trò như một định chế mềm tạo nhịp điệu thị trường.

Nghệ thuật biểu diễn sau “cú sốc” đại dịch cần chiến lược phục hồi dựa trên chất lượng nghệ thuật và trải nghiệm khán giả. Cải cách thủ tục là điều kiện cần; điều kiện đủ là nâng cấp năng lực sản xuất các hình thái phức hợp như nhạc kịch và vũ kịch, mở rộng quy mô liên hoan tới tầm khu vực, đồng thời ứng dụng công nghệ trình diễn như thực tế tăng cường và trình chiếu lập thể để tạo ra sản phẩm đa lớp cảm giác, qua đó mở rộng tệp khán giả và tăng doanh thu liên ngành.

Trong xuất bản, định hướng số hóa có chọn lọc bao gồm đầu tư vào sách điện tử, sách nói và các nền tảng phân phối mới, đi kèm với tăng cường năng lực biên tập và dịch thuật để đưa tác phẩm Việt Nam ra thị trường quốc tế. Vòng tuần hoàn sản xuất – bảo hộ – thương mại chỉ bền vững khi chuẩn mực tác quyền trong nước được nâng cao và thực thi hiệu quả.

Phát thanh và truyền hình đang chứng kiến sự mờ dần ranh giới với các dịch vụ theo yêu cầu trên Internet. Trọng tâm hoạch định chính sách cần đặt vào chuẩn hóa phân loại nội dung, nâng cao năng lực sản xuất nội dung Việt có chất lượng cao, đặc biệt ở phim dài tập và chương trình thực tế, đồng thời phát triển các mô hình kinh doanh nội dung số bền vững nhằm vừa cạnh tranh sòng phẳng với nền tảng quốc tế, vừa phát huy lợi thế hiểu biết thị hiếu bản địa.

Trong phần mềm và trò chơi giải trí, cơ hội bứt phá nằm ở việc phát triển tài sản trí tuệ gốc và nâng cấp nguồn nhân lực. Mô hình vườn ươm studio gắn với các chương trình kết nối trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp là một gợi ý thiết thực. Việc khuyến khích sáng tác trò chơi mang dấu ấn bản địa như các chủ đề lịch sử, sử thi và truyền thuyết sẽ giúp vượt ra khỏi quỹ đạo gia công, trong khi cơ chế bảo hộ sở hữu trí tuệ và hạ tầng phân phối số tạo điều kiện để các sản phẩm này trở thành một nhóm hàng xuất khẩu văn hóa.

Bên cạnh các định hướng theo ngành, vấn đề thực thi đòi hỏi một cấu trúc chính sách đồng bộ hơn. Trước hết, cần xác lập đầy đủ luật chơi thị trường trong lĩnh vực văn hóa, bảo đảm phân định quyền và trách nhiệm của các chủ thể trong chuỗi giá trị, tăng cường bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan, đồng thời khuyến khích xã hội hóa đầu tư và hợp tác công tư trong các dự án hạ tầng văn hóa như rạp chiếu phim, nhà hát, bảo tàng, trung tâm triển lãm và không gian sáng tạo đô thị. Các ghi nhận hiện có cho thấy quỹ đạo này đang tạo sức bật cho thị trường CNVH và bắt đầu chuyển hóa thành đóng góp cụ thể cho tăng trưởng.

Tiếp đến, hạ tầng cứng cần được phát triển theo hướng hình thành các cụm công trình đạt chuẩn nhằm tăng năng lực hấp thụ của thị trường và làm bệ đỡ cho doanh nghiệp sáng tạo; song song là hạ tầng mềm gồm không gian công cộng, cảnh quan và lễ hội đương đại như một sân khấu cho trải nghiệm văn hóa – du lịch, qua đó kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng mức tiêu dùng văn hóa.

Cuối cùng, về nhân lực, cần thúc đẩy liên kết giữa cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và cộng đồng sáng tạo nhằm lấp đầy khoảng trống kỹ năng trong các ngành then chốt như điện ảnh, thiết kế, thời trang, trò chơi và quản trị nghệ thuật; đồng thời có cơ chế thu hút và đãi ngộ tài năng để nâng cao năng suất sáng tạo.

Để giám sát chính sách, hệ thống chỉ số đo lường CNVH nên bao gồm các thước đo về đóng góp vào tổng sản phẩm quốc nội, số việc làm văn hóa, giá trị xuất khẩu sản phẩm văn hóa, tỷ lệ chi tiêu văn hóa của hộ gia đình, chỉ số sở hữu trí tuệ, mức độ số hóa nội dung, tỷ phần nội dung Việt trên nền tảng số và mức độ gắn kết văn hóa – du lịch. Các dữ liệu hiện có cho thấy một số phân ngành đã đạt quy mô đáng kể trong cơ cấu kinh tế; việc chuẩn hóa thống kê theo thông lệ quốc tế sẽ giúp định lượng chính xác hơn dư địa và tác động chính sách.

Tiểu kết

CNVH ở Việt Nam được định vị như một hệ sinh thái kết hợp sáng tạo, công nghệ, thị trường và bản sắc, hướng đến mục tiêu tăng trưởng bao trùm và gia tăng sức mạnh mềm. Định hướng phát triển hiện hành nhất quán ở các trụ cột thể chế, hạ tầng, nhân lực, chuyển đổi số và hội nhập. Khi các trụ cột này được triển khai đồng bộ, văn hóa có thể thực sự trở thành nguồn lực kinh tế mà vẫn giữ nguyên vai trò là hồn cốt dân tộc, tạo lợi thế cạnh tranh bền vững cho Việt Nam trong nền kinh tế sáng tạo toàn cầu.