
Tìm đường mở “kho báu” công nghiệp văn hóa và sáng tạo tại Việt Nam
Tại tọa đàm “Công nghiệp văn hóa (CNVH) – Con đường mở kho báu vô tận của sáng tạo Việt Nam” diễn ra ngày 01/10/ 2025 tại Hà Nội, các chuyên gia, nghệ sĩ và doanh nghiệp cùng thống nhất một nhận định: Việt Nam đang sở hữu một kho báu văn hóa khổng lồ nhưng chưa được khai thác đúng mức để tạo ra giá trị kinh tế và sức mạnh mềm quốc gia. Toạ đàm do Trung tâm nghiên cứu phát triển công nghiệp văn hoá Việt Nam (S-DCI) thuộc Liên hiệp Khoa học phát triển bền vững (STDe) tổ chức.

Nghịch lý rằng chúng ta có “kho báu” văn hóa nhưng chưa khai thác đầy đủ (Ảnh: Nhân Dân)
Cánh cửa mở ra nguồn lực vô tận
Tại tọa đàm “Công nghiệp văn hóa – Con đường mở kho báu vô tận của sáng tạo Việt Nam”, câu hỏi lớn nhất được đặt ra ngay từ đầu không phải là “Việt Nam có gì?” mà là “Làm thế nào để khai thác nguồn kho báu mà công nghiệp văn hóa mà chúng ta đang sở hữu?”.
Theo TS.KTS Nguyễn Thu Hạnh – Giám đốc S-DCI, kho báu ấy đã luôn hiện hữu: Từ di sản được UNESCO ghi danh như Nhã nhạc cung đình Huế, Ca trù, Xòe Thái; đến những biểu tượng đời sống như tà áo dài, nón lá, phở hay ly cà phê phin. Đó không chỉ là di sản của quá khứ, mà là nguồn tài nguyên có thể tái sinh vô hạn nếu được đặt trong một hệ sinh thái sản xuất công nghiệp.
Các chuyên gia tại tọa đàm đều khẳng định: Chìa khóa nằm ở cách tiếp cận CNVH theo một góc nhìn khác. Góc nhìn này đặt văn hóa ở vai trò tạo ra giá trị gia tăng, tạo việc làm mới, tạo thị trường mới và mở rộng “sức mạnh mềm” quốc gia chứ không chỉ là giải trí hay thưởng thức. Khi văn hóa bước vào “quy trình công nghiệp” gồm thiết kế, sản xuất, thương mại hóa và phân phối bằng chiến lược rõ ràng, nó trở thành động lực kinh tế đúng nghĩa.
Đó cũng là lý do nhiều đại biểu tại tọa đàm nhận định công nghiệp văn hóa là lĩnh vực hiếm hoi có khả năng đồng thời đáp ứng ba mục tiêu phát triển: Làm giàu, khi tạo ra giá trị kinh tế có thể mở rộng vô hạn nhờ sáng tạo – Làm đẹp, khi nuôi dưỡng đời sống tinh thần và gìn giữ bản sắc – Làm mạnh, khi giúp khẳng định vị thế, năng lực sáng tạo và sức mềm của Việt Nam trong các dòng chảy trao đổi toàn cầu. Công nghiệp văn hóa, vì thế, không chỉ là một ngành kinh tế mới mà còn là động lực dài hạn để Việt Nam xây dựng hình ảnh quốc gia sáng tạo, tự tin và giàu bản sắc.
Tuy vậy, “cánh cửa” của CNVH không tự mở. Nó đòi hỏi sự phối hợp của nhiều bên: Chính sách tạo hành lang, doanh nghiệp tạo thị trường, nghệ sĩ tạo nội dung, cộng đồng nuôi dưỡng sáng tạo và đô thị cung cấp hạ tầng. Khi những yếu tố này cùng hội tụ, kho báu văn hóa Việt Nam, vốn phong phú và độc đáo, sẽ không còn nằm im trong bảo tàng hay ký ức, mà bước vào đời sống, vào thị trường, vào những ngành công nghiệp trị giá hàng tỷ đô la.
Những “điểm nghẽn” kéo dài
Để mở cánh cửa đó, tọa đàm đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế đang cản trở sự bứt phá của các nhóm ngành công nghiệp văn hóa tại Việt Nam.
Trước hết chính là rào cản về nhận thức. Không ít cơ quan, doanh nghiệp và cộng đồng vẫn hiểu mơ hồ về công nghiệp văn hóa, xem văn hóa thuần túy là lĩnh vực bảo tồn thay vì một ngành kinh tế có khả năng tạo giá trị gia tăng. Cách tiếp cận này dẫn đến việc khai thác tài nguyên văn hóa thiên về bảo tồn cứng nhắc, thiếu tư duy phát triển sản phẩm và thiếu nhận thức về chuỗi giá trị sáng tạo từ ý tưởng, thiết kế, sản xuất tới thị trường.
Về thể chế, GS.TS Trần Thọ Đạt nhấn mạnh: Chiến lược quốc gia đã có nhưng nhiều chính sách vẫn chưa được luật hóa, đặc biệt là tính pháp lý của tài sản trí tuệ – nền tảng của mọi ngành công nghiệp dựa trên sáng tạo. Khi cơ chế bảo hộ bản quyền còn yếu, doanh nghiệp thiếu niềm tin để đầu tư dài hạn, nghệ sĩ mất động lực sáng tạo, thị trường dễ bị hàng nhái và hàng sao chép lấn át, sản phẩm văn hóa Việt khó cạnh tranh ở khu vực và quốc tế. Không chỉ bản quyền, các đại biểu khác cũng chỉ ra tình trạng thiếu thống nhất trong chính sách đất đai, ưu đãi thuế, tín dụng cho doanh nghiệp sáng tạo, khiến hệ sinh thái CNVH khó phát triển đồng bộ.
Cùng lưu ý về vấn đề sở hữu trí tuệ, Ông Trương Minh Tiến, Phó Chủ tịch Hiệp Hội UNESCO tại Hà Nội, nhấn mạnh: “Cần hoàn thiện Luật Sở hữu trí tuệ, Luật bản quyền tác giả, tăng cường bảo hộ sản phẩm phần mềm, sản phẩm số, ứng dụng AI trong CNVH…”. Ông cũng đặc biệt quan tâm đến nguồn nhân lực chất lượng cao, cả về kỹ năng quản lý và chuyên môn trong lĩnh vực văn hoá và CNVH: “Tăng cường liên kết đào tạo giữa các trường ĐH trong và ngoài nước, giữa nhà trường với doanh nghiệp gắn với thị trường…”.

Cần có cơ chế pháp lý đồng bộ trong phát triển công nghiệp văn hóa (Ảnh: hanoimoi.vn)
Nguồn nhân lực sáng tạo là vấn đề tiếp theo được đề cập. Dù Việt Nam có lực lượng trẻ đông đảo, nhưng khoảng cách kỹ năng vẫn lớn:Thiếu kỹ năng thiết kế nội dung số, quản trị sáng tạo, marketing văn hóa, khai thác dữ liệu số, làm sản phẩm số. Việc đào tạo tại các trường đại học còn xa rời nhu cầu thực tế, thiếu kết nối với doanh nghiệp và thiếu các chương trình đào tạo liên ngành – yếu tố sống còn của CNVH. Tiến sĩ Lê Minh Khuê, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu phát triển Công nghiệp văn hóa Việt Nam nêu ý kiến: Cần xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển nguồn nhân lực công nghiệp văn hóa, thành lập mạng lưới các trung tâm đào tạo về công nghiệp văn hóa; đồng thời đẩy mạnh hợp tác quốc tế, phát triển hệ sinh thái sáng tạo; đầu tư vào đào tạo ngoại ngữ và kỹ năng số, có cơ chế đánh giá và công nhận kỹ năng sáng tạo, từ đó tạo ra nguồn nhân lực vừa có chuyên môn sâu, vừa am hiểu thị trường công nghiệp văn hóa.
Bài toán hạ tầng và thị trường cũng được nêu bật. Không gian sáng tạo, trung tâm trình diễn, khu thử nghiệm sản phẩm, cơ chế mặt bằng dài hạn cho doanh nghiệp văn hóa… vẫn chưa được đầu tư tương xứng với tiềm năng của thị trường 100 triệu dân. Nhiều doanh nghiệp phản ánh họ không có điều kiện thuê mặt bằng ổn định để duy trì hoạt động, ươm mầm nghệ sĩ, phát triển cộng đồng hay xây dựng chuỗi giá trị sản phẩm. Bên cạnh đó, thị trường trong nước còn phân mảnh, thiếu liên kết giữa sáng tạo – sản xuất – phân phối; trong khi công nghệ số chưa được khai thác hiệu quả để mở rộng ra thị trường quốc tế. Hiểu rõ những khó khăn của doanh nghiệp trong cơ chế vận hành cơ sở vật chất công, giá thuê mặt bằng cho các đơn vị văn hoá, ông Đỗ Tuấn Anh, Chủ tịch CTCP SX giai điệu Thiên Thanh (Skysounds) đề xuất cụ thể: “Nhà nước cần có chính sách giá thuê ổn định, hợp lý và dài hạn, phù hợp với tính chất đặc thù của các dự án CNVH… Chắc chắn doanh nghiệp sẽ sẵn sàng đồng hành cùng nhà nước trong phát triển CNVH bền vững”.
Từ các phân tích này, có thể thấy công nghiệp văn hóa chỉ có thể bền vững khi đồng thời giải quyết năm trụ cột: tư duy, thể chế, nhân lực, cơ chế tài chính và chuyển đổi số. Nếu không tháo gỡ năm điểm nghẽn này, công nghiệp văn hóa khó tạo đột phá.
Hướng đi nào cho giai đoạn 2025 – 2035?
Kết thúc tọa đàm, GS.TS Trần Thọ Đạt đã tóm tắt 11 ý kiến của các chuyên gia và từ đó rút ra 5 vấn đề then chốt, đồng thời đề xuất 4 nhóm giải pháp ưu tiên cho giai đoạn 2025–2035. Cụ thể như sau.

4 giải pháp ưu tiên cần thực hiện để “mở rương” kho báu công nghiệp văn hóa Việt Nam (Ảnh: Nhân Dân)
Thứ nhất, Việt Nam cần sớm hoàn thiện khung pháp lý cho CNVH, tiến tới xây dựng Luật Công nghiệp Văn hóa nhằm tạo hành lang thống nhất về sở hữu trí tuệ, cơ chế hỗ trợ tài chính và môi trường hoạt động của doanh nghiệp sáng tạo. Đây là điều kiện tối thiểu để hình thành thị trường sản phẩm văn hóa lành mạnh, cạnh tranh và có giá trị cao.
Thứ hai, nguồn nhân lực sáng tạo phải trở thành trụ cột. Điều này đòi hỏi đầu tư mạnh vào giáo dục, hình thành mạng lưới đào tạo CNVH, gắn kết các trường đại học với doanh nghiệp, đồng thời tăng cường hợp tác quốc tế và kỹ năng số để đáp ứng nhu cầu thị trường mới.
Thứ ba, cần phát triển hệ sinh thái sáng tạo gồm các trung tâm CNVH, không gian sáng tạo và mô hình gắn CNVH với du lịch, đô thị và thương hiệu quốc gia. Các chuyên gia kiến trúc đề xuất đưa yếu tố văn hóa vào quy hoạch đô thị, xây dựng các cụm sáng tạo và hạ tầng trình diễn quy mô lớn để thu hút doanh nghiệp và nghệ sĩ.
Cuối cùng, chuyển đổi số phải trở thành động lực xuyên suốt. CNVH Việt Nam chỉ có thể bứt phá nếu công nghệ 4.0 được ứng dụng mạnh mẽ trong toàn bộ chuỗi giá trị: sáng tạo nội dung, phân phối số, bản quyền số, dữ liệu văn hóa và tiếp cận thị trường quốc tế.
Buổi tọa đàm khép lại bằng lễ ký kết hợp tác giữa S-DCI và Khoa Kiến trúc – Quy hoạch Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, mở ra hướng nghiên cứu và phát triển các mô hình CNVH theo tiếp cận liên ngành.
Dù chỉ diễn ra trong một buổi sáng, cuộc thảo luận đã cho thấy rõ một điều: Để “kho báu văn hóa” thật sự mở ra, Việt Nam cần một tư duy mới, một thể chế mới và một hạ tầng sáng tạo mới để văn hóa không chỉ được bảo tồn, mà còn được biến thành động lực phát triển của nền kinh tế sáng tạo trong tương lai.


