
Việt Nam: Phát triển các ngành công nghiệp văn hoá – Cơ hội xây dựng hệ sinh thái sáng tạo bền vững
Công nghiệp văn hóa Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng trưởng mạnh với nhiều điểm sáng từ điện ảnh, thiết kế, âm nhạc đến các làng nghề sáng tạo. Tuy nhiên, đằng sau sự sôi động ấy, một thực tế vẫn hiện hữu: Chuỗi giá trị còn phân mảnh, thiếu sự kết nối giữa sáng tạo, sản xuất, phân phối, thị trường và tái đầu tư. Câu hỏi đặt ra: Đâu là nút thắt khiến đà tăng trưởng này chưa thể trở thành động lực bền vững cho nền kinh tế sáng tạo Việt Nam?
Bức tranh hiện tại: Tăng trưởng nhanh nhưng chuỗi giá trị còn phân mảnh
Những năm gần đây, công nghiệp văn hoá nổi lên như một điểm sáng mới của nền kinh tế Việt Nam. Sau 5 năm triển khai Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hoá đến năm 2020, tầm nhìn 2030, tỷ trọng đóng góp của ngành vào GDP đã tăng từ 2,68% năm 2015 lên 3,61% năm 2018, vượt mục tiêu 3% đề ra cho năm 2020. Theo số liệu thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công bố tại Hội nghị đánh giá sau 5 năm triển khai, 12 ngành CNVH ở Việt Nam đã đóng góp doanh thu hơn 8 tỷ đô la Mỹ. Nhiều sản phẩm văn hoá chiếm được tình cảm của công chúng trong và ngoài nước, số lượng doanh nghiệp và cơ sở hoạt động trong lĩnh vực sáng tạo tăng trung bình trên 7% mỗi năm và tạo sinh kế cho khoảng 2 triệu lao động. Theo báo cáo UNESCO Creative Economy Outlook 2022, năm 2020 Việt Nam nằm trong nhóm mười quốc gia xuất khẩu hàng hóa sáng tạo nhiều nhất thế giới.
Mỗi lĩnh vực trong ngành công nghiệp văn hoá đều ghi dấu ấn rõ rệt. Điện ảnh Việt Nam ghi nhận doanh thu phòng vé 4.100 tỷ đồng trong năm 2023, và bùng nổ mạnh hơn trong năm 2024 khi doanh thu cán mốc 4.418 tỷ đồng, vượt qua cả giai đoạn hoàng kim trước dịch. Sự tăng trưởng này cho thấy thị hiếu văn hóa của người Việt ngày càng đa dạng, và công nghiệp điện ảnh đang từng bước khẳng định vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần lẫn kinh tế.
Ngành game cũng trở thành điểm sáng nổi bật, đưa Việt Nam vào nhóm 5 quốc gia có doanh thu cao nhất Đông Nam Á và top 5 thế giới về sản xuất game di động năm 2023, với hơn 4,2 tỷ lượt tải toàn cầu, cao gấp 2,5 lần mức trung bình thế giới. Lượng người chơi trong nước tăng mạnh, doanh thu đạt 525 triệu USD tính đến cuối năm 2024, còn doanh thu từ người dùng quốc tế dành cho các nhà phát triển game Việt Nam vượt 2.000 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng trung bình của ngành game Việt Nam được dự báo đạt gần 10% mỗi năm và có thể chạm mốc 2,42 tỷ USD vào năm 2029.
Ở lĩnh vực thủ công mỹ nghệ, lĩnh vực gắn liền với bản sắc văn hóa Việt Nam và là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực trong mảng văn hóa. Theo Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, giá trị xuất khẩu hàng năm của ngành thủ công ước đạt khoảng 1,7 tỷ USD. Những sản phẩm gốm, mộc, tre đan, sơn mài… tiếp tục được ưa chuộng tại nhiều thị trường quốc tế, thể hiện sức sống bền bỉ của làng nghề truyền thống trong bối cảnh hội nhập.
Hà Nội là minh chứng rõ rệt cho tiềm năng chuyển hoá tài nguyên văn hóa thành lợi ích kinh tế. Với mật độ di tích lớn, hệ thống di sản phong phú và nguồn lực sáng tạo dồi dào, Hà Nội được xem là địa phương tiêu biểu cho tiềm năng phát triển công nghiệp văn hóa. Trong vai trò Thành phố Sáng tạo thuộc Mạng lưới UNESCO, Hà Nội đã có sự chuyển mình mạnh mẽ khi các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp gần 1,5 tỷ USD, tương đương 3,7% GRDP. Đây là minh chứng cho tác động tích cực của chính sách khi được triển khai đúng hướng và nhất quán.

Ảnh: BTC Lễ hội thiết kế sáng tạo Hà Nội
Năm 2018, doanh thu từ các ngành công nghiệp văn hóa tại Hà Nội đạt 1,49 tỷ USD, trong đó riêng lĩnh vực nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 196,5 triệu USD. Các làng nghề truyền thống của Hà Nội cũng đóng góp gần 1 tỷ USD doanh thu trực tiếp và tạo sinh kế cho khoảng 1 triệu lao động. Kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng thủ công mỹ nghệ của thành phố đạt 192 triệu USD, phản ánh sức cạnh tranh đáng kể của sản phẩm văn hóa địa phương trên thị trường quốc tế.

Ảnh: BTC Lễ hội thiết kế sáng tạo Hà Nội
Bên cạnh đó, Hà Nội cũng trở thành điểm đến du lịch văn hóa hấp dẫn. Năm 2019, thành phố đón gần 29 triệu lượt khách, bằng một phần ba lượng khách du lịch của cả nước, trong đó có hơn 7 triệu lượt khách quốc tế. Hàng năm, Hà Nội liên tục được bình chọn là điểm đến hàng đầu của châu Á và thế giới. Giai đoạn 2015–2020, cơ cấu kinh tế của thành phố chuyển dịch theo hướng tăng nhanh tỷ trọng ngành dịch vụ, từ 57,2% lên 64,1% GRDP. Nhờ đó, Hà Nội duy trì mức tăng trưởng ổn định gần 7% mỗi năm và GRDP bình quân đầu người đạt 5.325 USD vào năm 2020. Đây là nền tảng quan trọng giúp Thủ đô tiếp tục phát huy bản sắc văn hóa để thúc đẩy các ngành công nghiệp sáng tạo phát triển.
Tăng trưởng nhanh không đồng nghĩa với phát triển bền vững
Dù đạt được nhiều kết quả tích cực, công nghiệp văn hóa Việt Nam vẫn chưa hình thành được một chuỗi giá trị hoàn chỉnh. Sự phát triển hiện nay chủ yếu dựa vào các thành tố đơn lẻ, mạnh ai nấy làm, thiếu liên kết để tạo thành sức mạnh tổng hợp.
Một thực tế đáng quan ngại là phần lớn các doanh nghiệp trong lĩnh vực văn hóa – sáng tạo đều ở quy mô nhỏ và siêu nhỏ. Sự phân tán này khiến họ khó đầu tư dài hạn vào công nghệ, bản quyền và nguồn nhân lực chất lượng cao. Ở nhiều ngành, dù có sản phẩm tốt nhưng thiếu cơ sở hạ tầng sản xuất và phân phối nên không thể mở rộng quy mô. Điều này đặc biệt rõ trong điện ảnh và hoạt hình, khi Việt Nam chỉ có vài studio đạt chuẩn quốc tế, khiến các tác phẩm lớn phải phụ thuộc nhiều vào đối tác nước ngoài.

Ảnh: BTC Lễ hội thiết kế sáng tạo Hà Nội
Thị trường nội địa, dù đang mở rộng, vẫn chưa đủ mạnh để nuôi dưỡng vòng tái đầu tư. Người Việt dành tỷ lệ thấp trong thu nhập cho các sản phẩm văn hóa, khiến doanh nghiệp khó phát triển những sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Các chuyên gia như Trương Minh Tiến và TS. Đỗ Đình Đức đều chỉ ra rằng Việt Nam thiếu khung chính sách đặc thù cho công nghiệp văn hóa: Từ ưu đãi thuế, tín dụng, quỹ đầu tư cho doanh nghiệp sáng tạo, đến chính sách đất đai dành cho không gian văn hóa, điều này cũng làm giảm động lực phát triển của doanh nghiệp.
Ngoài ra, hạ tầng mềm, bao gồm hệ thống không gian sáng tạo, thiết chế văn hóa và mạng lưới hỗ trợ còn thiếu và yếu. Nhiều không gian sáng tạo chủ yếu hoạt động tự phát, thiếu sự bảo trợ dài hạn. Một số mô hình khu công nghiệp văn hóa mới chỉ ở mức thử nghiệm, chưa đủ ảnh hưởng để thúc đẩy toàn ngành.
Hệ sinh thái sáng tạo còn thiếu gì để “cất cánh”?
Thực tiễn cho thấy Việt Nam có đủ điều kiện để công nghiệp văn hóa trở thành một trong những trụ cột kinh tế. Tuy nhiên, để điều đó thành hiện thực, ngành cần một chuỗi giá trị được kết nối chặt chẽ hơn: Từ sáng tạo đến sản xuất, tiêu dùng và tái đầu tư.
Bài toán ở đây không chỉ là tăng thêm doanh thu hay mở rộng quy mô từng ngành, mà là tạo dựng một hệ sinh thái bền vững, nơi ý tưởng sáng tạo được nuôi dưỡng, sản phẩm văn hóa được sản xuất trong môi trường hạ tầng đủ mạnh, thị trường đủ sức hấp thụ và chính sách đủ linh hoạt để khuyến khích phát triển.
Khi những mắt xích ấy được gắn kết, công nghiệp văn hóa Việt Nam không chỉ là một ngành tăng trưởng nhanh trong vài năm ngắn ngủi, mà sẽ trở thành một động lực dài hạn, đóng góp thiết thực vào nền kinh tế quốc gia.
Nguồn
-
- https://unctad.org/system/files/official-document/ditctsce2022d1_en.pdf
- https://tienphong.vn/phim-viet-uoc-dat-hon-4400-ty-dong-trong-nam-2024-post1697067.tpo?utm_source=chatgpt.com
- https://bvhttdl.gov.vn/game-viet-nam-dung-cong-nghiep-phan-mem-de-quang-ba-van-hoa-20251022152422153.htm
- https://en.vietnamplus.vn/craft-industry-posts-17-billion-usd-in-annual-export-value-post112441.vnp?utm_source=chatgpt.com
- https://daibieunhandan.vn/cu-hich-moi-cho-cong-nghiep-van-hoa-10396028.html
- https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/thuc-tien-kinh-nghiem1/-/2018/827664/chinh-sach-phat-trien-cac-nganh-cong-nghiep-van-hoa–cua-thanh-pho-ha-noi.aspx

