Đóng

Khi di sản trở thành hạ tầng dữ liệu của Thành phố Sáng tạo

Một mô hình 3D đẹp có thể giúp công chúng nhìn thấy quá khứ. Nhưng một cơ sở dữ liệu di sản chính xác có thể làm được nhiều hơn thế: phục vụ bảo tồn, nghiên cứu, giáo dục, du lịch, thiết kế và trở thành nguyên liệu cho những sản phẩm văn hóa chưa từng tồn tại. Hà Nội đang bước từ giai đoạn “số hóa để giới thiệu” sang một bài toán lớn hơn: xây dựng dữ liệu di sản như một phần hạ tầng của Thành phố Sáng tạo.

Hà Nội hiện quản lý 6.489 di tích lịch sử – văn hóa và 1.793 di sản văn hóa phi vật thể đã được kiểm kê.

Quy mô ấy đặt ra một vấn đề rất khác với việc số hóa một vài di tích nổi tiếng.

Hàng triệu trang hồ sơ, hình ảnh, bản vẽ, tư liệu Hán – Nôm, thông tin khảo cổ, kiến trúc, hiện vật, nhân vật, nghi lễ và ký ức cộng đồng đang nằm ở nhiều địa điểm và cơ quan khác nhau. Nếu những dữ liệu này chỉ được số hóa riêng lẻ, giá trị sử dụng vẫn bị giới hạn.

Hướng đi đang xuất hiện tại Hà Nội là kết nối chúng.

Theo thông tin được Cổng Thông tin điện tử Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công bố ngày 9/10, số hóa di sản của Thủ đô đang được mở rộng từ việc tạo sản phẩm trình chiếu hay giới thiệu trên mạng sang xây dựng dữ liệu có khả năng phục vụ nhiều mục đích: quản lý, bảo tồn, nghiên cứu, giáo dục, du lịch và phát triển nội dung văn hóa. 

Từ 28 điểm di sản tới một mạng lưới dữ liệu

Dự án H-Heritage là một ví dụ đáng chú ý.

Từ hơn 100 địa điểm được khảo sát, đối chiếu tư liệu bằng tiếng Pháp, Hán – Nôm và tiếng Việt, nhóm nghiên cứu lựa chọn 28 địa điểm để xây dựng bốn hành trình di sản theo chủ đề.

Bốn tuyến gồm Thăng Long Tứ trấn, tín ngưỡng thờ Mẫu, đình thờ tổ nghề và hệ thống chùa Hà Nội. Thay vì giới thiệu từng địa điểm như những đơn vị độc lập, các di tích được đặt trong mối quan hệ lịch sử, tín ngưỡng, nghề nghiệp và không gian đô thị.

Thông tin sau đó được tích hợp vào bản đồ tương tác, nền tảng H-Heritage và hệ thống mã QR tại điểm đến. 

Điều quan trọng ở đây không phải chiếc mã QR.

Phía sau nó là một cách tổ chức tri thức.

Khi đền Quán Thánh không chỉ có một trang giới thiệu riêng mà được đặt trong mạng lưới Thăng Long Tứ trấn; khi một đình thờ tổ nghề có thể kết nối với lịch sử một phố nghề và cộng đồng sản xuất; khi dữ liệu về một ngôi chùa được liên hệ với dòng Thiền, niên đại, kiến trúc và những điểm tương đồng khác, di sản bắt đầu được nhìn như một hệ thống.

Đây chính là bước chuyển từ số hóa hiện vật sang số hóa quan hệ giữa các lớp di sản.

Và với một Thành phố Sáng tạo, lớp quan hệ ấy có giá trị đặc biệt.

Một bộ dữ liệu, nhiều cách tạo ra giá trị

Hà Nội đã có nhiều ví dụ về công nghệ được sử dụng tại các di tích.

Hoàng thành Thăng Long ứng dụng 3D mapping, hologram, VR360 và các không gian trải nghiệm số. Văn Miếu – Quốc Tử Giám sử dụng dữ liệu 3D, AR, VR và các chương trình trình chiếu như “Vun đắp hiền tài”. Tại 48 Hàng Ngang, bản đồ và không gian thực tế ảo hỗ trợ tái hiện Hà Nội năm 1945; Pháo đài Láng sử dụng không gian 360 độ và công nghệ phục dựng để giúp công chúng hình dung những phần di tích không còn nguyên vẹn. 

Hanoicreativecity.com trước đây đã phản ánh nhiều trường hợp trong số này từ góc độ trải nghiệm công chúng: 3D mapping tại Hoàng thành, triển lãm số, hay cách Văn Miếu biến lịch sử giáo dục thành sản phẩm của kinh tế đêm. 

 

Một cảnh của bộ phim 3D Mapping “Vun đắp hiền tài” tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Ảnh: BTC

Nhưng lớp phát triển tiếp theo có thể quan trọng hơn những gì khán giả nhìn thấy trên màn hình.

Nếu một mô hình kiến trúc 3D, thông tin khảo cổ, niên đại, hình ảnh hiện vật và các nguồn sử liệu được chuẩn hóa thành dữ liệu có cấu trúc, cùng một khối dữ liệu có thể được sử dụng nhiều lần.

Nhà bảo tồn dùng nó để theo dõi di tích.

Nhà nghiên cứu dùng nó để đối chiếu.

Giáo viên có thể phát triển học liệu.

Nhà thiết kế có thể khai thác họa tiết, hình khối hay câu chuyện.

Doanh nghiệp công nghệ có thể phát triển trải nghiệm VR/AR.

Người làm phim, trò chơi, hoạt hình hay nội dung số có thể tìm thấy nguyên liệu cho những sản phẩm mới.

Di sản khi đó không chỉ được “đưa lên số”.

Nó trở thành một nguồn tài nguyên có khả năng tiếp tục tạo ra giá trị.

Từ hồ sơ bảo tồn đến nguyên liệu cho công nghiệp văn hóa

Đây là điểm câu chuyện số hóa gặp trực tiếp câu chuyện Hà Nội – Thành phố Sáng tạo.

Định hướng phát triển công nghiệp văn hóa của Hà Nội đang đặt việc số hóa di sản, tư liệu văn hóa – nghệ thuật, cơ sở dữ liệu và bản đồ số trong mối liên hệ với trí tuệ nhân tạo, Digital Twin, VR/AR và các nền tảng nội dung số. 

Nếu được xây dựng đúng cách, dữ liệu di sản có thể trở thành một loại “hạ tầng mềm” của kinh tế sáng tạo.

Một thành phố có đường sá để dòng người và hàng hóa di chuyển. Một thành phố số cần hạ tầng để dữ liệu di chuyển. Và một Thành phố Sáng tạo cần những kho tri thức đủ tin cậy để các nhà sáng tạo có thể tiếp tục tạo ra sản phẩm mới.

Ở Hà Nội, lợi thế đặc biệt nằm ở chính độ dày của nguồn nguyên liệu ấy: hơn một nghìn năm lịch sử đô thị, hàng nghìn di tích, làng nghề, phố nghề, nghi lễ, kiến trúc, nghệ thuật biểu diễn và ký ức cộng đồng.

Câu hỏi không còn chỉ là Hà Nội có bao nhiêu di sản.

Câu hỏi ngày càng quan trọng là những lớp tri thức ấy có được tổ chức đủ tốt để tiếp tục sinh ra giá trị hay không.

Không gian trải nghiệm trình chiếu 3D tái hiện cuộc đời của nữ bác sĩ, liệt sĩ Đặng Thùy Trâm tại Bảo tàng Hà Nội. Ảnh: Fanpage Bảo tàng Hà Nội

AI càng mạnh, dữ liệu càng phải đáng tin cậy

Nhưng chính tại đây xuất hiện một vấn đề mới.

Một mô hình 3D hay hình ảnh do AI tạo ra có thể rất thuyết phục về mặt thị giác. Người xem thông thường lại khó phân biệt đâu là hình ảnh dựa trên bằng chứng khảo cổ và đâu là phần được suy đoán để lấp vào khoảng trống lịch sử.

Công nghệ càng có khả năng tạo ra những phục dựng chân thực, ranh giới này càng cần được làm rõ.

Vấn đề đã được đặt ra tại Hội nghị Đối thoại châu Á – Thái Bình Dương về Di sản và Tính xác thực tổ chức tại Hà Nội cuối tháng 9/2026. “Văn kiện Hà Nội về Di sản và Tính xác thực” được thông qua ngày 30/9 nhấn mạnh cơ sở khoa học và việc ứng dụng công nghệ có trách nhiệm trong bảo tồn, quản lý và phát huy di sản.

Trường hợp Điện Kính Thiên cho thấy cách tiếp cận này rất cụ thể.

Công nghệ quét laser 3D được sử dụng để lập hồ sơ khoa học điện tử cho các cấu kiện, tạo cơ sở hình thành “bản sao số” phục vụ lưu trữ, nghiên cứu và quản lý. Nhưng mỗi dữ liệu cần đi kèm nguồn gốc, hiện trạng và căn cứ nghiên cứu.

Điều đó dẫn tới một nguyên tắc quan trọng: số hóa không chỉ cần đẹp và nhiều; dữ liệu phải có xuất xứ và mức độ tin cậy.

Đặc biệt khi AI bắt đầu tham gia vào quá trình diễn giải di sản, đây sẽ là điều kiện quyết định.

Từ “di sản số” đến Thành phố Sáng tạo dựa trên dữ liệu

Chiến lược Chuyển đổi số thành phố Hà Nội đến năm 2030, định hướng đến năm 2035, được phê duyệt tại Quyết định 521/QĐ-UBND ngày 3/2/2026, xác định dữ liệu và trí tuệ nhân tạo là những nền tảng quan trọng của quá trình chuyển đổi số Thủ đô. Thành phố đặt yêu cầu các cơ sở dữ liệu chuyên ngành phải bảo đảm “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”.

Với văn hóa, nguyên tắc ấy có thể tạo ra một thay đổi sâu hơn nhiều so với việc tăng số lượng ứng dụng hay màn hình tương tác.

Nếu dữ liệu về Thăng Long – Hà Nội dần được kết nối thành một hạ tầng chung, Thành phố sẽ sở hữu không chỉ một kho lưu trữ quá khứ mà còn một nguồn nguyên liệu cho tương lai.

Một hành trình di sản mới có thể được thiết kế từ đó.

Một chương trình giáo dục có thể được sinh ra từ đó.

Một bộ phim, trò chơi, triển lãm, sản phẩm VR, thiết kế thời trang hay trải nghiệm du lịch cũng có thể bắt đầu từ đó.

Với Hà Nội, quá trình số hóa di sản vì thế có thể được nhìn bằng một câu hỏi lớn hơn:

Không chỉ là làm thế nào để lưu giữ quá khứ bằng công nghệ, mà là làm thế nào để dữ liệu đáng tin cậy về quá khứ trở thành nguồn lực cho những sáng tạo chưa xuất hiện.

Nếu giải được bài toán ấy, dữ liệu di sản sẽ không chỉ nằm trong kho lưu trữ.

Nó có thể trở thành một phần của hạ tầng mà trên đó Thành phố Sáng tạo Hà Nội tiếp tục được xây dựng.

Nguồn tổng hợp:

  1. Cổng Thông tin điện tử Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, “Thủ đô Hà Nội tiên phong số hóa di sản, mở ra hướng đi mới cho bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa”, 09/10/2026. 
  2. Cổng Thông tin điện tử Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, “Giới thiệu các tuyến du lịch di sản Hà Nội: Kết nối giá trị văn hóa bằng nền tảng số”, thông tin chính thức về dự án H-Heritage. 
  3. UBND thành phố Hà Nội, Quyết định số 521/QĐ-UBND ngày 03/02/2026 phê duyệt Chiến lược Chuyển đổi số thành phố Hà Nội đến năm 2030, định hướng đến năm 2035.