
Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Văn Phong: Sự kiện sáng tạo phải tạo ra sản phẩm, bản quyền và thị trường
“Một sự kiện không nên chỉ dừng lại ở thời gian diễn ra”. Đó là nhấn mạnh của Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Văn Phong trong cuộc trao đổi với Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội nhân kỷ niệm 72 năm Ngày Giải phóng Thủ đô. Nội dung cuộc phỏng vấn được Cổng Thông tin điện tử Thành ủy Hà Nội đăng ngày 9/10/2026 với tiêu đề “Khơi dậy sức mạnh văn hóa, kiến tạo vị thế mới của Thủ đô”.
Theo ông, sau mỗi sự kiện, Hà Nội cần hướng tới những giá trị có khả năng tiếp tục tồn tại thông qua sản phẩm, bản quyền, du lịch, thương mại, nội dung số và thị trường.
Cách đặt vấn đề này cho thấy một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy phát triển công nghiệp văn hóa của Hà Nội. Sau giai đoạn hình thành các không gian sáng tạo, tổ chức lễ hội, chương trình văn hóa và kết nối cộng đồng sáng tạo, câu hỏi ngày càng rõ hơn là: sau một sự kiện, Thành phố giữ lại được gì?
Không chỉ là lượng khách tham dự hay hiệu ứng truyền thông trong vài ngày. Điều quan trọng hơn là những sản phẩm có vòng đời dài hơn sự kiện, những tài sản trí tuệ có thể tiếp tục khai thác, những thương hiệu có khả năng phát triển và một thị trường đủ sức nuôi dưỡng hoạt động sáng tạo.

Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Văn Phong thưởng thức nghệ thuật trên chuyến tàu lễ hội Thiết kế sáng tạo. Ảnh: Báo Hànộimới
Từ không gian sáng tạo tới sản phẩm sáng tạo
Theo Phó Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Phong, sau hơn bốn năm thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 22/2/2022 về phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô, Hà Nội đã hình thành 82 không gian sáng tạo, kết nối hoạt động sáng tạo với 11 trường đại học.
Thành phố cũng tổ chức đưa sinh viên, giảng viên về một số làng nghề để làm việc với nghệ nhân và phát triển sản phẩm mới. Đồng thời, Hà Nội đã hình thành 4 trung tâm, khu phát triển công nghiệp văn hóa, thương mại và văn hóa.
Những kết quả này cho thấy mạng lưới sáng tạo đang mở rộng. Nhưng một không gian sáng tạo mới chỉ tạo điều kiện để ý tưởng xuất hiện. Muốn hình thành công nghiệp văn hóa, ý tưởng phải tiếp tục được chuyển hóa thành sản phẩm, dịch vụ, tài sản trí tuệ và giá trị kinh tế.
Một triển lãm thiết kế có thể kết thúc sau vài ngày. Nhưng nếu từ triển lãm hình thành bộ sưu tập mới, hợp đồng thiết kế, sản phẩm có bản quyền hoặc thương hiệu tiếp tục được phát triển, giá trị của sự kiện đã được kéo dài.
Một chương trình nghệ thuật cũng vậy. Nếu nội dung tiếp tục được phát triển thành sản phẩm số, chương trình lưu diễn hay format có khả năng khai thác, tác phẩm bắt đầu tham gia một chuỗi giá trị rộng hơn.
Với làng nghề, kết quả cuối cùng không nên chỉ là một workshop giữa nghệ nhân và sinh viên, mà là những mẫu sản phẩm mới có khả năng tiếp tục được sản xuất và đưa vào đời sống.
Công nghiệp văn hóa phải được đo bằng dữ liệu
Một nền công nghiệp khó có thể phát triển nếu không biết mình đang tạo ra bao nhiêu giá trị.
Hà Nội đã xây dựng Bộ chỉ tiêu thống kê các ngành công nghiệp văn hóa, xác định 11 ngành, được tổ chức thành 7 nhóm với 62 chỉ tiêu.
Các nhóm chỉ tiêu theo dõi từ đóng góp kinh tế, lao động, đầu tư, doanh nghiệp đến năng lực sáng tạo, bản quyền, thị trường, mức thụ hưởng văn hóa, hạ tầng và quản lý nhà nước.
Thành phố bắt đầu triển khai tính toán hệ thống này trong năm 2026, kiểm chứng khả năng đo lường trong thực tế và dự kiến vận hành ổn định từ năm 2027.
Điều đó cho phép đặt ra những câu hỏi cụ thể hơn: công nghiệp văn hóa đóng góp bao nhiêu vào GRDP? Có bao nhiêu người làm việc trong các ngành sáng tạo? Bao nhiêu sản phẩm được bảo hộ sở hữu trí tuệ? Thị trường tiêu dùng văn hóa có quy mô ra sao? Các không gian sáng tạo hoạt động hiệu quả đến đâu?
Khi công nghiệp văn hóa được đo bằng dữ liệu, chính sách cũng có cơ sở rõ hơn để chuyển từ hỗ trợ theo từng hoạt động sang đầu tư dựa trên hiệu quả và tác động.

Hà Nội nhận diện 11 ngành công nghiệp văn hóa qua Đề án “Bộ chỉ tiêu thống kê về các ngành Công nghiệp văn hóa”. Ảnh: chinhphu.vn
Mục tiêu 9% GRDP và yêu cầu về mô hình vận hành
Theo ông Nguyễn Văn Phong, Chương trình hành động số 08-CTr/TU đặt mục tiêu đến năm 2030, công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 9% GRDP của Hà Nội; hình thành 15–20 trung tâm công nghiệp văn hóa, trung tâm phát triển thương mại văn hóa và trung tâm thiết kế sáng tạo; xây dựng 10–15 tác phẩm, chương trình nghệ thuật chất lượng cao mang thương hiệu Hà Nội và 3–5 sự kiện mang thương hiệu quốc gia trong lĩnh vực thiết kế sáng tạo.
Nhưng điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở số lượng.
Ông Nguyễn Văn Phong nhấn mạnh: “Mỗi trung tâm công nghiệp văn hóa phải có mô hình vận hành, sản phẩm chủ lực, nguồn lực xã hội và nguồn thu từ dịch vụ.”
Đây là yêu cầu rất thực tế.
Xây dựng một công trình văn hóa có thể hoàn thành theo một tiến độ đầu tư. Nhưng để một trung tâm công nghiệp văn hóa hoạt động lâu dài, cần trả lời những câu hỏi khó hơn: sản phẩm cốt lõi là gì, nhóm công chúng nào sẽ sử dụng, doanh nghiệp nào tham gia, nguồn thu đến từ đâu và giá trị tạo ra có quay trở lại nuôi dưỡng hoạt động sáng tạo hay không.
Nếu không giải được bài toán vận hành, một thiết chế mới rất dễ chỉ trở thành địa điểm tổ chức sự kiện.
Từ sự kiện tới tài sản trí tuệ
Một điểm quan trọng trong cuộc phỏng vấn của Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội là yêu cầu chuyển tài nguyên văn hóa thành tài sản trí tuệ, sản phẩm sáng tạo và giá trị kinh tế.
Hà Nội có một kho tài nguyên rất lớn: di sản, lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật biểu diễn, làng nghề, ẩm thực, ký ức đô thị và những biểu tượng văn hóa được tích lũy qua nhiều thế hệ.
Nhưng tài nguyên văn hóa không tự động trở thành tài sản của kinh tế sáng tạo.
Một câu chuyện lịch sử có thể được phát triển thành phim, sách, hoạt hình, trò chơi hoặc sản phẩm giáo dục.
Một họa tiết di sản có thể trở thành mẫu thiết kế.
Một vở diễn có thể tiếp tục sống bằng nội dung số hoặc sản phẩm lưu diễn.
Một lễ hội có thể tạo ra hệ thống nhận diện, format, chương trình và những sản phẩm có thể tiếp tục khai thác sau thời điểm tổ chức.
Khi đó, bản quyền không còn là vấn đề đến sau sáng tạo, mà trở thành một phần của chuỗi giá trị ngay từ đầu.
Có sản phẩm nhưng không có thị trường thì chưa có công nghiệp
Ông Nguyễn Văn Phong cũng đặt thị trường vào vị trí rất rõ trong quá trình phát triển công nghiệp văn hóa.
Theo ông, có sản phẩm nhưng không có thị trường thì không thể hình thành một ngành công nghiệp văn hóa. Vì vậy, sáng tạo sản phẩm phải đi cùng quảng bá, phân phối, bảo hộ bản quyền, chuyển đổi số, kết nối quốc tế và xây dựng thương hiệu.
Đây cũng là điểm phân biệt giữa hỗ trợ sáng tạo và xây dựng một nền kinh tế sáng tạo.
Một chương trình tài trợ có thể giúp nghệ sĩ tạo ra tác phẩm đầu tiên. Nhưng chỉ khi có công chúng, hệ thống phân phối, người sẵn sàng trả tiền và khả năng tái đầu tư, tác phẩm tiếp theo mới có thể xuất hiện mà không phụ thuộc hoàn toàn vào hỗ trợ công.
Hà Nội có lợi thế đáng kể về thị trường. Trong 7 tháng đầu năm 2026, Thành phố đón khoảng 21,24 triệu lượt khách du lịch, trong đó có 5,32 triệu lượt khách quốc tế, với tổng thu từ khách du lịch khoảng 86,68 nghìn tỷ đồng.
Nếu văn hóa, di sản, sự kiện và sáng tạo được tổ chức tốt, giá trị tạo ra có thể lan sang du lịch, dịch vụ, thương mại và nhiều ngành kinh tế khác.
Từ “đầu tư cho văn hóa” sang “đầu tư bằng văn hóa”
Trong cuộc phỏng vấn, ông Nguyễn Văn Phong sử dụng một cách diễn đạt đáng chú ý: Hà Nội cần từng bước chuyển từ “đầu tư cho văn hóa” sang “đầu tư bằng văn hóa”.
Hai cách nói chỉ khác nhau một chữ, nhưng hàm ý rất khác.
“Đầu tư cho văn hóa” đặt văn hóa ở phía nhận nguồn lực.
“Đầu tư bằng văn hóa” coi chính văn hóa là nguồn lực để tạo ra giá trị mới.
Điều đó không có nghĩa mọi di sản hay hoạt động văn hóa đều phải sinh lời. Nhưng với những lĩnh vực được xác định là công nghiệp văn hóa, khả năng hình thành sản phẩm, tài sản trí tuệ, việc làm, nguồn thu và thị trường phải trở thành một phần của thiết kế phát triển ngay từ đầu.
Đây cũng là một phép thử quan trọng đối với Hà Nội – Thành phố Sáng tạo.
Sau giai đoạn hình thành mạng lưới không gian sáng tạo, tổ chức lễ hội và tạo ra nhiều mô hình thử nghiệm, câu hỏi không còn chỉ là Hà Nội có bao nhiêu hoạt động sáng tạo.
Quan trọng hơn là những hoạt động ấy tạo ra sản phẩm gì, sản phẩm có tiếp tục tồn tại sau sự kiện hay không, ai sở hữu và phát triển tài sản trí tuệ, thị trường nào sử dụng chúng, và giá trị được tạo ra có quay trở lại nuôi dưỡng sáng tạo tiếp theo hay không.
Nếu vòng tuần hoàn ấy hình thành, một sự kiện sẽ không còn kết thúc khi sân khấu được tháo dỡ.
Nó có thể trở thành điểm bắt đầu của một sản phẩm, một thương hiệu, một tài sản trí tuệ hoặc một thị trường mới.
Và đó cũng là lúc Hà Nội – Thành phố Sáng tạo tiến thêm một bước: từ không gian và hoạt động sáng tạo sang một hệ sinh thái có khả năng sản xuất, sở hữu và đưa giá trị sáng tạo ra thị trường.
Nguồn tổng hợp
- Cổng Thông tin điện tử Thành ủy Hà Nội, “Khơi dậy sức mạnh văn hóa, kiến tạo vị thế mới của Thủ đô”, cuộc trao đổi với Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Văn Phong, 09/10/2026.
- Cổng Thông tin điện tử Chính phủ – chuyên trang Thủ đô Hà Nội, “Hà Nội nhận diện 11 ngành công nghiệp văn hóa”, 10/08/2026.
- Chương trình hành động số 08-CTr/TU của Thành ủy Hà Nội, các mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa và hệ sinh thái sáng tạo đến năm 2030.








