Đóng

Đoàn Thanh Hà: Kiến trúc không cần lớn để tạo ra thay đổi lớn

Ở thời điểm kiến trúc ngày càng được nhìn như một phần của kinh tế sáng tạo đô thị, câu chuyện của KTS Đoàn Thanh Hà gợi ra một hướng đi khác với logic “càng lớn càng quan trọng”. Nhiều công trình của H&P Architects có quy mô nhỏ, vật liệu giản dị, ngân sách hạn chế, thậm chí nằm ở những nơi thiếu điện, thiếu nước, khó tiếp cận. Nhưng chính từ những giới hạn ấy, anh đặt ra một câu hỏi lớn hơn: kiến trúc có thể thay đổi điều gì trong đời sống thực?

Tháng 4/2026 tại Istanbul, KTS Đoàn Thanh Hà được vinh danh tại Global Award for Sustainable Architecture 2026. Với anh, giải thưởng không phải điểm kết thúc của một hành trình, mà là một dịp để nhìn lại con đường mình đã chọn: kiến trúc gắn với văn hóa, tự nhiên, cộng đồng và những nhu cầu rất cụ thể của con người.

Hanoi Creative City trò chuyện với KTS Đoàn Thanh Hà về một cách làm kiến trúc đi từ những điều nhỏ, nhưng luôn hướng tới những thay đổi dài hạn.

KTS Đoàn Thanh Hà. Ảnh: Nhân vật cung cấp

Anh nhận được tin mình được vinh danh tại Global Award for Sustainable Architecture 2026 trong hoàn cảnh nào?

Một chiều cuối tháng 5/2025, tôi nhận được email của GS Jana Revedin – người sáng lập và Chủ tịch của Giải thưởng Toàn cầu về Kiến trúc Bền vững. Bà gửi lời chúc mừng rất nồng ấm, đồng thời lưu ý thông tin này sẽ được công bố vào lễ trao giải tháng 4/2026, tức gần một năm sau.

Dĩ nhiên tôi vui và tự hào. Sự ghi nhận này khiến tôi thêm vững tin vào con đường mình đã chọn. Với những cộng đồng mà tôi làm việc cùng, nó cũng là một cách để tiếng nói của họ được lắng nghe nhiều hơn.

Nhưng ngay lúc ấy, tôi cũng tự điểm lại những gì mình đã làm và thấy vẫn rất “khiêm tốn”. Trong lịch sử giải thưởng này, hiếm người “làm ít” và “làm bé” như tôi. Nghĩ vậy nên tôi cũng có phần lúng túng.

“Làm ít”, “làm bé”, nhưng ban giám khảo lại nhìn thấy ở anh một hành trình nhất quán. Điều gì kết nối các công trình ấy?

Tôi luôn coi trọng ba yếu tố: Văn hóa – Culture, Kiến trúc – Architecture và Tự nhiên – Nature. Tôi gọi tắt là CAN.

Với tôi, ba yếu tố này là một thể thống nhất. CAN là triết lý dẫn đường để biến những điều vẫn đang là không thể hoặc rất khó thành điều có thể, thành một cơ hội để tạo ra những nơi chốn nhân văn và bền vững cho người dân Việt Nam.

Tôi không xem kiến trúc là một vật thể đứng riêng khỏi bối cảnh. Nó luôn nằm trong quan hệ với văn hóa và tự nhiên.

Trong số những dự án được nhắc đến khi trao giải, công trình nào có ý nghĩa cá nhân nhất với anh?

Vườn vệ sinh ở Trường Sơn Lập là một dự án khá đặc biệt.

Không chỉ vì tính chất không gian, mà còn vì cách công trình được hiện thực hóa.

Ở dự án đó, chúng tôi phải đảm nhiệm rất nhiều vai cùng lúc: là tư vấn thiết kế; là người trực tiếp tham gia xây dựng; gần như là chủ đầu tư vì có phần tài trợ chi phí; đồng thời cũng là người hoạt động xã hội, phải vận động và phối hợp với chính quyền các cấp cùng người dân địa phương.

Nó cho tôi thấy kiến trúc không chỉ là thiết kế rồi bàn giao bản vẽ. Có những nơi, muốn một công trình xuất hiện, kiến trúc sư phải bước vào cả quá trình xã hội phía sau nó.

Anh từng nói kiến trúc phải có trách nhiệm với tự nhiên và môi trường văn hóa – xã hội. Quan niệm ấy hình thành như thế nào?

Tôi làm những điều này khá bản năng, vì coi nó hiển nhiên như sống thì phải thở vậy.

Kiến trúc cần có trách nhiệm với môi trường tự nhiên, bởi kiến trúc mượn từ tự nhiên những không gian quý báu để có thể hiện hữu. Ai cũng biết kiến trúc là vật thể rất lớn, chỉ sau thiên nhiên.

Còn về bản chất, kiến trúc là để phục vụ con người, nên đương nhiên nó cũng phải có trách nhiệm với môi trường văn hóa – xã hội.

Làm kiến trúc ở những nơi thiếu điện, thiếu nước, khó tiếp cận như Trường Sơn Lập khác gì làm kiến trúc trong thành phố?

Với tôi, làm ở đâu cũng có thuận lợi và khó khăn riêng.

Nguyên tắc chung của chúng tôi là sử dụng vật liệu tự nhiên, vật liệu có sẵn ở địa phương và công nghệ phù hợp với điều kiện địa phương. Đó thường là sự kết hợp giữa kỹ thuật truyền thống và những cải tiến hiện đại.

Điểm khác biệt lớn ở những nơi như Trường Sơn Lập là có thể huy động nguồn lực tại chỗ. Các em học sinh, thầy cô giáo, người dân địa phương và chúng tôi cùng trực tiếp tham gia thi công.

Ở đô thị, những việc có tính chất “chung tay” như vậy khó thực hiện hơn.

Có phải chính những điều kiện hạn chế khiến anh quan tâm nhiều hơn đến cộng đồng yếu thế?

Ngay khi thành lập H&P Architects năm 2009, tôi đã có những trăn trở như vậy.

Việt Nam khi đó và ngay cả hiện nay vẫn có một tỷ lệ lớn dân số sống ở nông thôn, nơi điều kiện sống còn hạn chế và dễ tổn thương trước thiên tai. Điều đó khiến tôi sớm nghĩ rằng kiến trúc không thể chỉ phục vụ một nhóm nhỏ.

Những năm 2000, tôi cũng cảm thấy kiến trúc Việt Nam đang đứng trước hai vấn đề khá lớn. Một là câu chuyện phương hướng tư tưởng, tức sau Đổi Mới chúng ta vẫn chưa hình thành được một hướng kiến trúc mới đủ chín và có ảnh hưởng rộng. Hai là khoảng cách với thực tiễn đời sống, từ quy chuẩn, thiếu không gian xanh, hạ tầng quá tải cho tới quy hoạch treo.

Đó là những trăn trở khi tôi cùng cộng sự thành lập H&P Architects.

Nếu so với hiện tại, tôi nghĩ con đường ấy ngày càng rõ hơn.

Anh có chủ động từ chối các dự án thương mại để lựa chọn những công trình nhỏ hoặc ở vùng khó khăn không?

Có nhiều dự án tôi không nhận vì thấy không có cơ hội cho sáng tạo kiến trúc.

Nhiều lúc tôi chọn công trình ở những nơi xa hơn vì ở đó lại có khả năng tạo ra một giá trị mới, dù phí thiết kế chắc chắn không thể tốt bằng dự án trong đô thị.

Hiện tại chúng tôi cũng chưa có nhiều cơ hội phù hợp để làm những công trình thương mại quy mô lớn. Tôi vẫn mong gặp được những chủ đầu tư có chung tầm nhìn: kiến trúc có thể thúc đẩy hoạt động thương mại như thế nào, nhưng đồng thời công trình đó đóng góp gì cho đời sống xã hội?

Tôi nghĩ hai câu hỏi ấy không nên tách rời nhau.

Với anh, “bản địa” trong kiến trúc nghĩa là gì? Có phải cứ dùng vật liệu truyền thống hay hình thức truyền thống là bản địa?

Không.

Tôi chú trọng cấu trúc không gian và không muốn sa vào chủ nghĩa hình thức. Vì vậy tôi quan tâm đến tinh thần và logic của kiến trúc bản địa hơn là “hình ảnh của bản địa”.

Tính địa phương, khả năng thích ứng, khả năng huy động nguồn lực tại chỗ và cảm giác gần gũi với người sử dụng mới là những phần quan trọng của tri thức bản địa.

Vấn đề là phải chuyển hóa tri thức đó bằng tư duy đương đại, chứ không sao chép hay cắt ghép hình thức cũ.

Chỉ khi ấy, bản địa mới trở thành một ngôn ngữ sáng tạo cho tương lai.

Nhưng khi làm với vật liệu rất bình thường như gạch, ngói, tre hoặc vật liệu tái chế, làm thế nào để đồng thời giải được bài toán thẩm mỹ, độ bền và chi phí?

Khi hiểu đúng vật liệu, huy động được nhân lực và nguồn lực tại chỗ, đồng thời thiết kế phù hợp với khí hậu và cách sử dụng, chúng ta có thể tạo ra kiến trúc vừa có chất lượng, vừa phù hợp với khả năng kinh tế của cộng đồng.

Điều quan trọng không nằm ở giá thành của từng loại vật liệu, mà ở cách chúng được tổ chức.

Một đơn vị rất nhỏ như viên gạch hay đốt tre, nếu được sắp đặt hợp lý và sử dụng công nghệ phù hợp với điều kiện địa phương, vẫn có thể tạo ra một cấu trúc mạnh và có giá trị thẩm mỹ rõ ràng.

Công trình Không gian ngói ở Đông Anh. Ảnh: Nhân vật cung cấp

Năm 2023 anh nhận Giải Vassilis Sgoutas của UIA cho kiến trúc phục vụ người nghèo; năm 2026 là Global Award for Sustainable Architecture. Với anh, khoảng cách giữa một công trình được vinh danh và một công trình thực sự phục vụ được người sử dụng nằm ở đâu?

Một giải thưởng có thể ghi nhận một ý tưởng đổi mới, một cách tiếp cận khác hoặc một quá trình dấn thân lâu dài.

Nhưng người sử dụng lại đánh giá công trình bằng những điều rất cụ thể.

Có dễ sử dụng không?

Có bền không?

Và quan trọng là họ có thực sự cảm thấy đây là không gian của mình không?

Vì thế, giải thưởng với tôi là sự khích lệ, không phải đích đến.

Khi người dùng cuối không thấy công trình có ích thì chúng ta vẫn chưa hoàn thành công việc của mình.

Tháng 10/2025, UNESCO bổ sung Kiến trúc vào các lĩnh vực của Mạng lưới Thành phố Sáng tạo. Anh nhìn thấy điều gì từ thay đổi này?

Tôi nghĩ đây là một tín hiệu tích cực đối với kiến trúc sư Việt Nam.

Nó có thể làm thay đổi cách kiến trúc được nhìn nhận: từ một nghề chuyên môn sang một thành tố quan trọng của hệ sinh thái văn hóa và kinh tế sáng tạo đô thị.

Tôi có thể cô đọng thành bốn vấn đề.

Thứ nhất là vị thế: kiến trúc sư trở thành một chủ thể tham gia vào phát triển văn hóa và đô thị.

Thứ hai là cơ hội: có thể mở rộng thị trường, dự án và các hoạt động chuyên môn quốc tế.

Thứ ba là kết nối: kiến trúc sư có thể tham gia những mạng lưới kiến trúc và thành phố sáng tạo toàn cầu.

Và thứ tư, cũng rất quan trọng, là trách nhiệm: dùng kiến trúc để giải quyết các vấn đề thực của đô thị và cộng đồng.

Hà Nội đã là Thành phố Sáng tạo UNESCO trong lĩnh vực Thiết kế. Theo anh, sự nhìn nhận mới đối với kiến trúc có thể thay đổi vai trò của kiến trúc sư trong thành phố như thế nào?

Tôi nghĩ nó có thể góp phần mở rộng nhận thức xã hội về kiến trúc sư.

Kiến trúc sư không chỉ là người thiết kế một tòa nhà.

Họ là người kiến tạo môi trường sống và tham gia định hình tương lai đô thị.

Công trình Pavilion Nguồn. Ảnh: Nhân vật cung cấp

Nếu một kiến trúc sư trẻ ở Hà Nội muốn đi theo hướng kiến trúc có trách nhiệm xã hội, điều đầu tiên anh khuyên họ là gì?

Dành thời gian trải nghiệm thực tế.

Phải hiểu con người, khí hậu và văn hóa địa phương của nơi mà bạn dự định tạo ra tác động bằng kiến trúc.

Và luôn phải đặt câu hỏi: nên làm gì, làm cho ai và làm như thế nào?

Những câu hỏi ấy phải được phản biện từ nhiều chiều.

Sau những giải thưởng quốc tế, anh có thấy áp lực phải làm một công trình lớn hơn hoặc “đáng kể” hơn không?

Chúng tôi vẫn giữ tinh thần khởi nghiệp như những ngày đầu.

Tức là vẫn chắt chiu từng cơ hội để đóng góp thêm những giá trị cụ thể cho đời sống qua những không gian kiến trúc mình làm.

Tôi không nghĩ mình phải làm lớn hơn để chứng minh điều gì.

Vậy công trình tiếp theo anh muốn làm sẽ giải quyết vấn đề gì?

Việt Nam cũng như thế giới đang đối diện ngày càng nhiều thách thức phức tạp: biến động dân số, an ninh lương thực, chuyển dịch năng lượng, suy giảm tài nguyên thiên nhiên, khủng hoảng sinh thái và biến đổi khí hậu.

Tôi hy vọng kiến trúc tiếp tục có thể trở thành một công cụ quan trọng để ứng phó với những vấn đề ấy.

Có thể công trình vẫn nhỏ, nhưng câu hỏi mà nó giải quyết không nhất thiết phải nhỏ.

Nếu phải chọn một câu ngắn nhất để nói kiến trúc cuối cùng nên làm gì cho con người, anh sẽ nói gì?

Tôi nhớ lần gần nhất tham gia diễn đàn kiến trúc ở Istanbul cùng KTS Wang Shu, người nhận giải Pritzker năm 2012.

GS Jana Revedin đặt một câu hỏi có nội dung khá gần như vậy.

Wang Shu không do dự và chỉ trả lời một từ:

“Action” – Hành động.

Theo ông, câu hỏi căn bản của kiến trúc hôm nay là làm sao tái khám phá ý nghĩa của việc “làm” trong thế giới thực. Kiến trúc không chỉ là thứ để bàn luận mà trên hết phải được trực tiếp thực hiện.

Tôi thấy điều đó rất gần với cách mình nhìn về kiến trúc.

Cuối cùng, những gì chúng ta làm được trong thế giới thực mới là điều có ý nghĩa.