
“Xem lại vẫn bồi hồi như thời thanh xuân”
91 tuổi, chân đau, phải ngồi xe lăn, nhưng bà Lương Thị Vân vẫn được con cháu đưa tới Hoàng thành Thăng Long để xem Lễ khai mạc Festival Thăng Long – Hà Nội 2026. Với bà, những tiết mục trên sân khấu không chỉ là một chương trình nghệ thuật, mà còn đánh thức ký ức của một thời tuổi trẻ. Từ hàng ghế khán giả, “dòng chảy di sản” hiện ra theo một cách khác: qua ký ức của người già, sự tò mò của người trẻ và những cuộc trò chuyện tiếp tục sau khi sân khấu đã tắt đèn.
Khi chương trình đã kết thúc, bà Lương Thị Vân vẫn chưa muốn về.
Bà 91 tuổi, sống tại ngõ 297 phố Ngọc Hà, Hà Nội. Chân đau, việc đi lại không còn dễ dàng, nhưng tối 11/9, bà vẫn cùng con, cháu và chắt đến Hoàng thành Thăng Long dự Lễ khai mạc Festival Thăng Long – Hà Nội lần thứ II năm 2026.
Ngồi trên xe lăn, bà chăm chú theo dõi chương trình cho đến cuối.
“Bà già yếu rồi mà xem chương trình này lại hồi tưởng về thời xưa khi còn độ tuổi mười tám, đôi mươi”, bà kể. “Đã bao nhiêu năm trôi qua rồi mà hôm nay xem lại vẫn bồi hồi như thời thanh xuân.”
Điều bà Vân nhắc nhiều không phải một tiết mục cụ thể.
“Tiết mục nào bà nhìn thấy cũng thích cả”, bà nói. Sân khấu, âm thanh, ánh sáng hiện đại khiến bà ngạc nhiên; những đoàn nghệ thuật đến từ Ấn Độ, Nhật Bản khiến bà thích thú bởi sau phần biểu diễn, nghệ sĩ còn xuống gần khán giả để giao lưu.
“Ngày xưa còn khó khăn, đâu có được quy mô hiện đại như thế này… Vui quá nên từ nãy tới giờ bà đã kịp ăn gì đâu mà thấy no bụng, thấy vui trọn vẹn rồi”, bà cười.
Trong một Festival mang tên “Dòng chảy di sản”, hình ảnh một người phụ nữ 91 tuổi ngồi giữa con cháu nhiều thế hệ có lẽ tự nó đã nói lên một phần ý nghĩa của hai chữ “dòng chảy”.

Bà Lương Thị Vân cùng gia đình đến dự Lễ khai mạc Festival Thăng Long – Hà Nội 2026. Ảnh: hanoicreativecity.com
Khi ký ức gặp một cách kể mới
Không chỉ bà Vân, nhiều khán giả lớn tuổi có mặt tại Hoàng thành tối khai mạc cũng nhắc đến cảm giác vừa quen vừa mới.
Bà Nguyễn Thị Kim Dung, Bí thư Chi bộ tổ dân phố Xuân Lộc 3, phường Xuân Đỉnh, cho rằng sự kết hợp giữa yếu tố truyền thống với âm thanh, ánh sáng và cách dàn dựng hiện đại đã tạo ra một tổng thể “vừa có tính cổ truyền, vừa có tính hiện đại”, phù hợp với cả người cao tuổi lẫn lớp trẻ.
Điều bà Dung nhìn thấy rõ nhất là khả năng kết nối thế hệ.
“Nó tạo ra một dòng chảy từ thế hệ đi trước và kết nối thế hệ trẻ ngày nay”, bà nói. Chương trình đã kết thúc nhưng bà vẫn muốn tiếp tục tham gia những sự kiện khác trong chuỗi Festival. “Đến lúc chương trình kết thúc rồi mình cũng không muốn đứng lên để về nữa.”
Bà Nguyễn Thị Tường, cũng đến từ Xuân Đỉnh, lại chú ý tới cách công nghệ làm thay đổi trải nghiệm của người xem. Theo bà, âm thanh và ánh sáng giúp cảm xúc được đẩy lên rõ hơn; nhiều khán giả nán lại đến tận phút cuối.
Các bà đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau của đời sống văn hóa Hà Nội. Với họ, sự mới mẻ không nằm ở việc truyền thống được thay thế bằng cái mới, mà ở chỗ những yếu tố quen thuộc được kể lại bằng ngôn ngữ của thời đại.

Cô Kim Dung cùng bạn có mặt tại Hoàng thành Thăng Long tối khai mạc. Ảnh: Hanoicreativecity.com
Người trẻ đến với di sản bằng một cánh cửa khác
Ở phía bên kia của khoảng cách thế hệ, Trần Thị Dương, một khán giả trẻ đến từ Hà Nội, thừa nhận rằng trước đây cô chủ yếu bắt gặp hát xẩm và một số loại hình nghệ thuật truyền thống qua mạng xã hội.
Nhưng khi được xem trực tiếp trên một sân khấu lớn, trong cách phối khí và dàn dựng mới, cảm giác lại khác.
Dương cho rằng việc kết hợp âm nhạc truyền thống với yếu tố hiện đại khiến các tiết mục “gần gũi với giới trẻ” hơn, đồng thời có thể giúp nghệ thuật truyền thống tiếp cận rộng hơn với công chúng.
Với Thiều Bảo Ngọc, một tiết mục của đoàn Ấn Độ lại trở thành điểm khởi đầu cho sự tò mò về một nền văn hóa khác. Trang phục, âm nhạc và cách biểu diễn khiến cô muốn tìm hiểu thêm về Ấn Độ sau chương trình.
Nhưng khoảnh khắc Ngọc nhớ nhất lại là phần kết, khi các nghệ sĩ trong nước và quốc tế cùng xuất hiện.
“Khoảnh khắc tất cả mọi người cùng nhau hòa chung lời ca mang lại cảm giác gắn kết bạn bè thế giới rất rõ nét”, Ngọc chia sẻ.
Di sản trong trường hợp này không chỉ giúp người trẻ nhìn lại những gì thuộc về quá khứ của mình. Nó còn trở thành một cánh cửa để đi ra thế giới.

Tiếng đàn Tsugaru Shamisen vượt khỏi khuôn mẫu cuộn cùng nhịp Street Dance dồn dập và Beatbox đầy ngẫu hứng tạo nên một dòng chảy di sản đương đại đầy màu sắc của Nhật Bản. Ảnh: BTC
Một bài đồng dao đi từ bà, mẹ tới sân khấu
Nếu bà Vân nhìn sân khấu và nhớ lại tuổi đôi mươi, Nguyễn Thảo Nhi, học sinh Trường THCS Xuân Đỉnh, lại đứng trực tiếp trên sân khấu và nhớ đến những ngày còn nhỏ.
Nhi tham gia biểu diễn tiết mục “Đồng dao” và phần kết của chương trình.
“Sau khi diễn xong bài Đồng dao, con lại nhớ về ngày xưa khi còn nhỏ được bà và mẹ đọc, kể cho nghe những bài đồng dao”, Nhi kể. “Giờ lớn lên, được đứng trên sân khấu thể hiện lại bài đồng dao này, con cảm thấy rất xúc động.”
Đường đi của một bài đồng dao trong câu chuyện của Nhi rất ngắn mà cũng rất dài.
Từ lời bà, lời mẹ trong gia đình, nó bước lên một sân khấu lớn tại Hoàng thành Thăng Long, được một cô bé của thế hệ hôm nay hát trước hàng nghìn khán giả, trong một chương trình có cả nghệ sĩ trong nước và quốc tế.
Đó có lẽ là một hình ảnh cụ thể nhất của việc trao truyền di sản: không phải một giá trị được giữ nguyên trong tủ kính, mà là một điều đã được nghe, ghi nhớ, rồi được một thế hệ khác tự mình thể hiện lại.
Sau sân khấu là những cuộc trò chuyện trong gia đình
Chị Vân, một phụ huynh ở Hà Nội, đưa các con đến Festival với một mong muốn khá đơn giản: để các con thấy rằng những giá trị văn hóa truyền thống không phải điều xa lạ.
Chị cho biết gia đình thường đưa các con tới những không gian văn hóa để xem múa rối nước, nghệ thuật dân gian hay các chương trình trải nghiệm. Với chị, một buổi biểu diễn không kết thúc khi tiết mục cuối cùng khép lại.
“Sau buổi hôm nay về, chắc chắn bố mẹ sẽ cùng trò chuyện thêm với các con về Thăng Long, về Hà Nội”, chị nói.
Chị cũng nhìn thấy một bài toán quen thuộc: trẻ em hôm nay lớn lên trong môi trường tiếp xúc rất nhiều với văn hóa và xu hướng toàn cầu. Vì vậy, gìn giữ truyền thống không thể chỉ là yêu cầu các em “phải biết”, mà cần tạo ra những hình thức đủ hấp dẫn để các em muốn tiếp cận.
Theo chị, có thể đổi mới hình thức thể hiện, nhưng điều quan trọng là vẫn giữ được bản sắc của chính di sản.
Đó cũng là ranh giới mà nhiều chương trình di sản đang phải tìm cách giải quyết: làm mới đến đâu để người trẻ bước vào, nhưng không làm mất đi điều khiến một thực hành văn hóa trở thành chính nó.

Một tiết mục biểu diễn tại Lễ Khai mạc Festival Thăng Long – Hà Nội 2026. Ảnh: BTC
“Dòng chảy” nằm ở đâu?
Trên sân khấu khai mạc, “Dòng chảy di sản” được kể bằng ánh sáng, âm nhạc, công nghệ, những nghệ sĩ đến từ nhiều vùng miền và quốc gia.
Nhưng phía dưới sân khấu, một dòng chảy khác diễn ra lặng lẽ hơn.
Một người 91 tuổi nhìn một tiết mục và nhớ mình ở tuổi mười tám.
Một người mẹ nghĩ đến cuộc trò chuyện với con trên đường trở về nhà.
Một cô bé đứng trên sân khấu hát bài đồng dao từng được bà và mẹ đọc cho nghe.
Một người trẻ lần đầu thấy một hình thức nghệ thuật truyền thống đủ gần để muốn tìm hiểu thêm.
Có lẽ một lễ hội di sản chỉ thực sự có ý nghĩa khi những gì diễn ra trên sân khấu không kết thúc cùng tiếng vỗ tay.
Nó tiếp tục trong ký ức, trong một câu hỏi mới, trong cuộc trò chuyện giữa cha mẹ và con cái, hay trong quyết định sẽ quay lại một chương trình khác.
Tối qua, bà Lương Thị Vân còn nhờ con cháu chụp thật nhiều ảnh để lưu làm kỷ niệm.
Ở tuổi 91, bà đến Festival để gặp lại một phần tuổi trẻ của mình.
Còn những đứa trẻ đứng bên cạnh bà có thể một ngày nào đó nhìn lại những bức ảnh ấy và nhớ về một buổi tối chúng đã cùng bà đi xem di sản.
“Dòng chảy” có lẽ bắt đầu từ những khoảnh khắc giản dị như thế.









