
Hà Nội – Thành phố Sáng tạo: Giá trị nào ở lại với người dân?
Hà Nội đã đi một chặng đường đáng kể trên hành trình xây dựng Thành phố sáng tạo, từ những lễ hội thu hút hàng trăm nghìn người đến các mô hình nghệ thuật, giáo dục và kinh tế gắn với cộng đồng. Thành phố cũng đang hình thành những cơ chế chính sách mới để sáng tạo trở thành động lực phát triển. Nhưng khi ánh đèn lễ hội tắt, điều gì thực sự ở lại? Ai được hưởng lợi từ những giá trị mới? Và làm thế nào để sức hấp dẫn văn hóa hôm nay không phải đánh đổi bằng những nguồn lực của ngày mai?
Từ những mảnh vải dư đến câu hỏi lớn về giá trị sáng tạo
Tháng 8/2023, Vụn Art vẫn phải tổ chức hoạt động tại bốn địa điểm thuê khác nhau. Theo lời kể của nhà sáng lập Lê Việt Cường, có những căn phòng chỉ rộng khoảng 20 m², phòng lớn nhất cũng chỉ khoảng 30 m². Trong điều kiện ấy, cơ sở vẫn tìm cách duy trì sản xuất, đào tạo và tạo việc làm cho những người khuyết tật vốn gặp không ít rào cản khi tham gia thị trường lao động.
Ba năm sau, Vụn Art đang xây dựng một công trình mới mang tên Ngôi nhà Hy vọng. Tại thời điểm phỏng vấn năm 2026, Lê Việt Cường cho biết cơ sở có 51 người tham gia làm việc, phần lớn là người khuyết tật. Đây là thông tin do người sáng lập cung cấp, chưa phải số liệu được kiểm toán hoặc điều tra độc lập.

Hoạt động bên trong xưởng tại Vụn Art. Ảnh: hanoicreativecity.com
Những mảnh vải dư được ghép thành các sản phẩm thủ công có giá trị thẩm mỹ. Nhưng phía sau mỗi sản phẩm còn là một quá trình khác: người lao động học kỹ năng, thực hiện công việc phù hợp với khả năng, tham gia hoạt động tập thể và từng bước mở rộng cơ hội giao tiếp.
Với những người có nhiều trở ngại trong việc tìm kiếm việc làm, cơ hội được lao động và có thu nhập không đơn thuần là một chỉ số kinh tế. Đó còn là khả năng tham gia đời sống xã hội bằng năng lực của chính mình.
Tuy nhiên, Lê Việt Cường cũng không che giấu những áp lực tài chính, khó khăn trong huy động nguồn lực và sự phụ thuộc đáng kể của mô hình vào nỗ lực cá nhân.
Ở Vụn Art, có thể nhìn thấy đồng thời hai mặt của sáng tạo vì phát triển bền vững: khả năng tạo ra giá trị xã hội từ những nguồn lực tưởng chừng ít giá trị và thách thức duy trì giá trị ấy trong một mô hình kinh tế có nhiều giới hạn.
Một sản phẩm thủ công đẹp có thể được bán. Nhưng cơ hội hòa nhập, sự tự tin và quá trình phát triển năng lực của người lao động sẽ được tính vào giá trị của sản phẩm ấy như thế nào?
Và nếu một tổ chức đang tạo ra những giá trị xã hội cần thiết nhưng chưa đủ khả năng tự trang trải, nên xem đó là một mô hình kinh doanh chưa thành công, hay là một loại hoạt động có phần lợi ích công cộng cần được nhìn nhận bằng cơ chế khác?
Những câu hỏi này không chỉ dành cho Vụn Art. Chúng chạm đến một vấn đề ngày càng quan trọng đối với Hà Nội: Phát triển sáng tạo được đánh giá bằng số lượng sản phẩm và hoạt động, hay bằng những thay đổi thực chất mà nó mang lại cho con người và thành phố?
Hà Nội đã đi xa hơn những mùa lễ hội
Năm 2019, Hà Nội chính thức gia nhập Mạng lưới các Thành phố Sáng tạo của UNESCO trong lĩnh vực Thiết kế. Từ đó, sáng tạo dần có vị trí rõ hơn trong các chương trình phát triển văn hóa, tổ chức không gian và kết nối các nguồn lực của Thủ đô.
Những kết quả đạt được không nhỏ.
Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội năm 2024 thu hút gần 300.000 lượt người dân và du khách trong chín ngày, với sự tham gia của hơn 500 đơn vị và chủ thể sáng tạo. Nhiều công trình kiến trúc, không gian di sản vốn ít có điều kiện tiếp cận công chúng được mở ra cho hoạt động tham quan, nghệ thuật và trải nghiệm.
Cuối năm 2025, Hà Nội công bố và trao chứng nhận cho 82 không gian văn hóa sáng tạo, một bước tiến trong việc nhận diện và kết nối những chủ thể đang hoạt động ở nhiều lĩnh vực.
Nhìn rộng hơn, những mùa lễ hội đã góp phần thay đổi cách công chúng tiếp cận di sản và nghệ thuật. Các công trình lịch sử có thêm cơ hội đối thoại với đời sống đương đại; những người làm thiết kế, thủ công, kiến trúc, nghệ thuật và giáo dục có thêm điểm gặp gỡ; còn sáng tạo không chỉ được nhìn nhận như hoạt động của một nhóm nghệ sĩ chuyên nghiệp.
Đáng chú ý, chính định hướng chính sách của thành phố cũng đang thay đổi.
Kế hoạch số 333/KH-UBND ngày 10/12/2025 xác định bước chuyển từ tổ chức lễ hội sang xây dựng hệ sinh thái sáng tạo đô thị. Phạm vi sáng tạo được mở rộng tới thiết kế đô thị, không gian công cộng, an sinh xã hội và những ý tưởng giải quyết các vấn đề cụ thể như ô nhiễm môi trường, úng ngập và trật tự đô thị.
Tại lễ công bố khung hoạt động Lễ hội năm 2026, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Vũ Thu Hà nhấn mạnh định hướng đưa các dự án, ý tưởng sáng tạo vào khai thác giá trị văn hóa, di sản và làng nghề, hướng tới khả năng phát triển thương mại lâu dài và nâng cao chất lượng sống của người dân.
Đây là một chuyển biến quan trọng trong tư duy quản lý: sáng tạo không còn chỉ là phương tiện làm phong phú đời sống văn hóa, mà được kỳ vọng tham gia giải quyết những nhu cầu phát triển của đô thị.
Bởi vậy, sẽ không công bằng nếu nhìn hành trình Thành phố sáng tạo của Hà Nội chỉ qua những hạn chế còn tồn tại. Thành phố đã có hoạt động, chủ thể, kinh nghiệm tổ chức và những công cụ chính sách ban đầu để đi xa hơn.
Nhưng chính những bước tiến ấy cũng làm xuất hiện yêu cầu đánh giá cao hơn.
Khi một lễ hội thu hút hàng trăm nghìn người, thành công về sức hút đã khá rõ. Câu hỏi tiếp theo là những không gian, hoạt động và quan hệ hợp tác được tạo ra có tiếp tục phát huy giá trị hay không.
Khi một mạng lưới có 82 không gian được chứng nhận, thành phố đã nhận diện được một lực lượng sáng tạo đáng kể. Nhưng các đơn vị có thực sự tiếp cận được nguồn lực, chia sẻ chuyên môn và tạo ra những quan hệ hợp tác có ích cho nhau?
Không thể đòi hỏi kết quả dài hạn ngay từ một chính sách mới hình thành. Nhưng cũng không thể tiếp tục lấy số lượng hoạt động làm thước đo duy nhất khi mục tiêu chính sách đã chuyển sang chất lượng phát triển.
Một sân chơi đẹp có đủ để gọi là thành phố đáng sống?
Với Nguyễn Quốc Đạt, người sáng lập Think Playgrounds – Nghĩ về Sân chơi trong phố, sáng tạo bắt đầu từ một nhu cầu rất cụ thể: trẻ em cần nơi an toàn để được chơi.
Hình thành từ năm 2014 và chuyển thành doanh nghiệp xã hội năm 2017, Think Playgrounds lựa chọn sân chơi và không gian công cộng làm lĩnh vực hoạt động.
Theo Nguyễn Quốc Đạt, đến năm 2026, tổ chức đã tham gia thực hiện hơn 300 sân chơi trên toàn quốc, phần lớn tại Hà Nội. Con số này do nhà sáng lập cung cấp, chưa phải kết quả kiểm kê độc lập.

Trẻ em vui chơi tại không gian Công viên rừng Phúc Tân. Ảnh: Hanoicreativecity.com
Điều đáng chú ý nằm ở cách tổ chức tiếp cận công việc.
Một sân chơi không chỉ cần có hình thức hấp dẫn. Nó còn phải phù hợp với nhu cầu của trẻ nhỏ, bảo đảm an toàn, thuận tiện cho người đi xe lăn, người đẩy xe nôi và những nhóm có khả năng vận động khác nhau.
Nguyễn Quốc Đạt cho biết hoạt động thiết kế thường bắt đầu từ việc gặp gỡ chính quyền địa phương, họp cộng đồng và lắng nghe nhu cầu của người dân. Từ sân chơi, tổ chức còn mở rộng sang vườn cộng đồng, đường tiếp cận, không gian xanh và các giải pháp hỗ trợ hệ sinh thái đô thị.
Những thực hành này gắn trực tiếp với mục tiêu xây dựng đô thị an toàn, bao trùm và có không gian công cộng dễ tiếp cận trong Chương trình nghị sự phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc.
Nhưng một sân chơi hoàn thành không đồng nghĩa mọi trẻ em đều có cơ hội sử dụng.
Nếu sân chơi không được bảo trì, thiếu lối tiếp cận phù hợp hoặc không có điều kiện vận hành an toàn, giá trị công cộng của công trình sẽ suy giảm. Nếu không khảo sát trải nghiệm thực tế, rất khó biết những nhóm trẻ em nào đã được phục vụ và nhóm nào vẫn đứng ngoài.
Đó là lý do sự tham gia của cộng đồng cần hiện diện từ lúc thiết kế đến khi công trình được đưa vào sử dụng.
Đối với Hà Nội, hướng tiếp cận này có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi sân chơi. Khi thành phố xác định thiết kế không gian công cộng là một phần của hệ sinh thái sáng tạo, các công trình và chương trình có thể được đánh giá không chỉ bằng chất lượng kiến trúc mà cả bằng khả năng tiếp cận, sử dụng thường xuyên và bảo trì.
Một đô thị đẹp hơn là điều đáng mong muốn. Nhưng một đô thị đáng sống còn phải là nơi những người có điều kiện khác nhau đều có cơ hội sử dụng những giá trị mà thành phố tạo ra.
Nghệ thuật tạo ra những thay đổi nào trong giáo dục?
Nếu sân chơi đặt vấn đề về quyền tiếp cận không gian, giáo dục nghệ thuật đặt ra câu hỏi về quyền được phát triển năng lực.
Tại Tí Toáy Atelier, nhà sáng lập Nguyễn Thùy Trang không nhìn việc học nghệ thuật chỉ như con đường phát hiện và bồi dưỡng tài năng.
Theo bà, sau khoảng 14 năm hoạt động, xưởng nghệ thuật vẫn kiên trì định hướng lấy người học làm trung tâm. Trẻ em được chủ động lựa chọn vật liệu, xây dựng ý tưởng, tìm cách thể hiện và khám phá nhiều loại hình nghệ thuật thị giác.
Giáo viên không chỉ hướng dẫn để tạo ra một sản phẩm đẹp mà còn hỗ trợ người học quan sát, đặt câu hỏi và hình thành cách diễn đạt riêng.
Tí Toáy cũng đưa một phần hoạt động vào trường học, nhằm mở rộng cơ hội cho những trẻ em không có điều kiện đến xưởng.

Một buổi học tại Xưởng nghệ thuật Tí Toáy
Tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, việc đổi mới hoạt động giáo dục và trải nghiệm lại bắt đầu từ mối quan hệ giữa công chúng với hiện vật.
Theo Lê Cẩm Nhung, người phụ trách công tác truyền thông, giáo dục và đối ngoại, bảo tàng kết hợp tri thức lịch sử, nội dung trưng bày với thiết kế trải nghiệm và hợp tác cùng trường học. Người trẻ được khuyến khích tương tác, đặt câu hỏi và chủ động tìm hiểu câu chuyện của hiện vật.
Hai cách thực hành khác nhau cùng cho thấy một khả năng của sáng tạo: nghệ thuật và di sản có thể trở thành môi trường học tập, chứ không chỉ là đối tượng để ngắm nhìn.
Tuy nhiên, một lớp học được học sinh yêu thích chưa đủ để khẳng định đã phát triển được năng lực tư duy hay sáng tạo. Những thay đổi ấy cần được quan sát và đánh giá bằng phương pháp phù hợp.
Một câu hỏi khác cũng cần được đặt ra: những chương trình giáo dục nghệ thuật có chất lượng đang đến được với những nhóm trẻ em nào?
Nếu cơ hội học tập chủ yếu phụ thuộc vào khả năng chi trả và nơi cư trú của gia đình, khoảng cách tiếp cận có thể tiếp tục tồn tại ngay cả khi thành phố có thêm nhiều cơ sở giáo dục sáng tạo.
Hợp tác giữa trường học, bảo tàng và các tổ chức nghệ thuật có thể mở rộng cơ hội tiếp cận. Nhưng sự hợp tác đó cũng cần bảo đảm thù lao và điều kiện làm việc phù hợp cho những người trực tiếp thiết kế, giảng dạy và tổ chức hoạt động.
Đây là lĩnh vực mà sáng tạo có thể đóng góp cho mục tiêu giáo dục có chất lượng, đồng thời tạo ra những mối liên hệ giữa chính sách văn hóa và chính sách giáo dục.
Bởi mục tiêu không nhất thiết là đào tạo thêm nhiều nghệ sĩ. Điều quan trọng hơn là tạo thêm cơ hội để trẻ em được khám phá năng lực, hình thành tư duy độc lập và tham gia vào đời sống văn hóa bằng sự chủ động của chính mình.
Khi di sản hấp dẫn hơn, ai được hưởng lợi?
Một trong những thành tựu đáng ghi nhận của Hà Nội là đưa những không gian di sản vào đối thoại với nghệ thuật và thiết kế đương đại.
Nhưng di sản đô thị không chỉ có kiến trúc đẹp và ký ức lịch sử. Nhiều địa điểm còn là nơi diễn ra những hoạt động kinh tế và xã hội đang tồn tại.
Chợ Đồng Xuân là một trường hợp như vậy.
Trong nghiên cứu chuyên sâu về khu chợ, nhóm thực hiện đã phân tích đời sống thương mại dưới góc nhìn của tiểu thương, người mua và những người lao động gắn bó với địa điểm.
Với người tổ chức nghệ thuật, Chợ Đồng Xuân là một không gian có lịch sử phong phú, giàu khả năng sáng tạo. Nhưng với những người kinh doanh, chợ trước hết là nơi duy trì sinh kế, các mối hàng và quan hệ trao đổi.
Hai mục tiêu có thể bổ trợ cho nhau. Một chương trình văn hóa hấp dẫn có khả năng làm tăng sự quan tâm tới chợ, mở rộng cơ hội tiếp cận khách hàng và tạo thêm giá trị cho địa điểm.
Nhưng nếu không tính đến việc vận chuyển hàng hóa, lối đi, thời gian buôn bán và quyền tham gia của tiểu thương, hoạt động sáng tạo cũng có thể gây ra những bất tiện hoặc chi phí ngoài dự kiến.

Chợ Đồng Xuân được lựa chọn là một trong những địa điểm chính của Lễ hội Thiết kế sáng tạo Hà Nội 2026. Ảnh: TTXVN
Giám tuyển Nguyễn Anh Tuấn, người tham gia chuẩn bị chương trình nghệ thuật thị giác tại Chợ Đồng Xuân cho Lễ hội 2026, cho biết nhóm đã dành nhiều thời gian khảo sát, ghi nhận hình ảnh, âm thanh và phỏng vấn các nhóm người làm việc trong chợ trước khi xây dựng nội dung nghệ thuật.
Đó là một cách tiếp cận đáng ghi nhận: tìm hiểu đời sống hiện hữu trước khi đưa hoạt động mới vào không gian ấy.
Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện phỏng vấn, chương trình nghệ thuật chưa diễn ra. Vì vậy, lợi ích hay tác động thực tế của chương trình đối với hoạt động thương mại vẫn là vấn đề cần được đánh giá sau khi triển khai.
Điều đáng chú ý là Hà Nội không thiếu hoàn toàn cơ sở chính sách để xử lý mối quan hệ giữa phát triển kinh tế văn hóa và quyền lợi cộng đồng.
Nghị quyết số 25/2025/NQ-HĐND ngày 10/7/2025 của HĐND thành phố quy định về khu phát triển thương mại và văn hóa, với cơ chế tổ chức và quản lý có sự tham gia của cộng đồng dân cư. Đối với những khu được thành lập theo nghị quyết, cộng đồng có vai trò trong việc quyết định và giám sát các nội dung liên quan đến hoạt động của khu; cơ chế quản lý cũng đặt ra yêu cầu công khai và trách nhiệm giải trình.
Đây là một hướng tiếp cận thể chế đáng chú ý: người dân không chỉ xuất hiện với tư cách đối tượng được phục vụ, mà còn có thể tham gia vào quá trình tổ chức và quản lý.
Tất nhiên, nghị quyết không tự động áp dụng cho mọi địa điểm văn hóa hay mọi hoạt động nghệ thuật ở Hà Nội. Việc thực hiện còn phụ thuộc vào phạm vi, điều kiện thành lập và quy định cụ thể.
Nhưng nguyên tắc chính sách ấy gợi mở một câu hỏi cần thiết cho mọi dự án can thiệp vào không gian đang có người sử dụng:
Nếu một chương trình sáng tạo có thể làm thay đổi cách một địa điểm vận hành, những người đang sống và làm việc tại đó được tham gia quyết định đến mức nào?
Vấn đề không phải buộc nghệ thuật luôn chiều theo mọi ý kiến hay từ bỏ những thử nghiệm mới. Vấn đề là đổi mới cần được tổ chức trên cơ sở hiểu rõ quyền lợi, nghĩa vụ và những giá trị hiện hữu, thay vì coi một không gian giàu đời sống như mặt bằng trống.
Tại Nhà máy Xe lửa Gia Lâm, yêu cầu ấy xuất hiện dưới hình thức khác. Nơi đây đã thu hút lượng lớn công chúng trong Lễ hội Thiết kế Sáng tạo năm 2023, nhưng đến năm 2026 vẫn duy trì hoạt động sản xuất, nghiên cứu kỹ thuật và lưu giữ lịch sử ngành đường sắt.
Do đó, phát triển không gian văn hóa không thể đồng nghĩa với việc mặc nhiên thay thế chức năng sản xuất. An toàn, thiết bị, kỹ năng nghề và ký ức lao động cũng là những giá trị cần được bảo vệ.
Những trường hợp này cho thấy sáng tạo có khả năng làm tăng giá trị của di sản, nhưng chỉ thực sự bền vững khi không làm suy yếu những chức năng và cộng đồng tạo nên sức sống của di sản ấy.
Ai trả chi phí cho những giá trị không dễ bán?
Không phải mọi hoạt động sáng tạo đều có thể hoặc cần trở thành một sản phẩm thương mại.
Một sân chơi phục vụ trẻ em có thể không thu phí. Một chương trình giáo dục cho nhóm khó khăn có thể cần hỗ trợ tài chính. Một tổ chức tạo việc làm hòa nhập phải dành thêm nguồn lực để đào tạo, thích ứng công việc và hỗ trợ người lao động.
Những hoạt động ấy có thể tạo ra lợi ích xã hội lớn hơn khả năng thu hồi chi phí trực tiếp của đơn vị tổ chức.
Vụn Art là một trường hợp. Think Playgrounds là một trường hợp khác.
Trong lĩnh vực giáo dục trải nghiệm, Hà Nội Nghệ Văn lựa chọn không duy trì địa điểm cố định để giảm chi phí vận hành. Thay vì sở hữu một không gian riêng, nhóm tổ chức hoạt động tại những địa điểm phù hợp, kết hợp trải nghiệm thực địa với sự hướng dẫn của nghệ sĩ và chuyên gia.
Lựa chọn này cho thấy không gian sáng tạo không phải lúc nào cũng được xác định bằng một địa chỉ. Một tổ chức chuyên về giáo dục, giám tuyển và kết nối có thể tạo giá trị từ mạng lưới quan hệ và hoạt động chuyên môn, dù không có cơ sở vật chất cố định.
Vậy chính sách hỗ trợ cần nhận diện những chủ thể ấy bằng cách nào?
Nếu chỉ ưu tiên dự án có doanh thu lớn hoặc khả năng tự trang trải nhanh, những hoạt động phục vụ nhóm ít khả năng chi trả có thể gặp bất lợi. Nhưng nếu hỗ trợ không gắn với kết quả và trách nhiệm giải trình, nguồn lực cũng có nguy cơ bị sử dụng kém hiệu quả.
Hà Nội đã bắt đầu mở rộng công cụ chính sách cho lĩnh vực này.
Luật Thủ đô số 02/2026/QH16, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, trao thêm thẩm quyền để thành phố quy định chính sách khuyến khích, huy động nguồn lực xã hội hóa, hỗ trợ phát triển các thiết chế văn hóa, người hoạt động văn hóa, nghệ thuật và nghệ nhân.
Tiếp đó, Nghị quyết số 31/2026/NQ-HĐND ngày 15/6/2026 quy định một số chính sách huy động nguồn lực xã hội hóa, sử dụng ngân sách nhà nước để bảo vệ, phát triển văn hóa, thể thao và hỗ trợ các thiết chế liên quan. Thành phố cũng đã ban hành quy định về trình tự, thủ tục thực hiện.
Những văn bản này không có nghĩa mọi tổ chức sáng tạo đều đương nhiên được nhận kinh phí hỗ trợ. Điều kiện, đối tượng, thẩm quyền và nguồn tài chính phải được xác định theo từng chính sách cụ thể.
Dẫu vậy, đây là những cơ sở đáng chú ý để tìm lời giải cho các mô hình tạo giá trị công ích nhưng gặp khó khăn trong việc chuyển toàn bộ lợi ích ấy thành doanh thu.
Một hướng đi là phân biệt rõ hoạt động thương mại, hoạt động phục vụ lợi ích công cộng và mô hình kết hợp cả hai. Từ đó, xác định trách nhiệm của Nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng và đơn vị thực hiện theo từng mục tiêu.
Câu hỏi khó không còn đơn giản là có nên hỗ trợ sáng tạo hay không.
Nguồn lực công cần được đặt vào đâu để tạo ra giá trị mà thị trường khó tự cung cấp, và bằng chứng nào cho thấy khoản hỗ trợ ấy thực sự cải thiện đời sống cộng đồng?
Đó là câu hỏi vừa đòi hỏi trách nhiệm của cơ quan quản lý, vừa đặt yêu cầu minh bạch đối với chính các tổ chức sáng tạo.
Sáng tạo xanh: một thông điệp đẹp hay một thay đổi có thể đo được?
Những sản phẩm từ vải dư của Vụn Art còn gợi mở vấn đề về trách nhiệm môi trường.
Việc tận dụng vật liệu, kéo dài thời gian sử dụng và tạo giá trị mới từ nguồn nguyên liệu có sẵn là những thực hành đáng khuyến khích.
Trong lĩnh vực kiến trúc, kiến trúc sư Đoàn Thanh Hà cũng nhấn mạnh việc lựa chọn vật liệu tại chỗ, sử dụng kỹ thuật phù hợp với điều kiện địa phương và kết hợp sự tham gia của cộng đồng vào quá trình tạo dựng công trình.
Tuy nhiên, phần lớn các trường hợp kiến trúc được ông giới thiệu không nằm tại Hà Nội, vì vậy không thể tính chúng thành kết quả môi trường của Thủ đô.
Điểm chung có giá trị ở đây là tư duy đưa trách nhiệm môi trường vào quyết định thiết kế ngay từ đầu.
Nhưng một sản phẩm sử dụng vật liệu dư chưa đủ để khẳng định đã giảm phát thải. Một công trình dùng vật liệu tự nhiên cũng chưa đương nhiên thân thiện với môi trường hơn mọi phương án khác.
Muốn đánh giá đầy đủ hơn, cần xem xét lượng nguyên liệu đầu vào, năng lượng tiêu thụ, vận chuyển, tuổi thọ sản phẩm và phương án xử lý sau sử dụng.
Với lễ hội và các hoạt động trưng bày tạm thời, câu hỏi này càng trở nên thiết thực.
Một sự kiện có thể giới thiệu hàng loạt tác phẩm sáng tạo về bảo vệ môi trường. Nhưng sau khi sự kiện kết thúc, những cấu kiện trưng bày, vật liệu trang trí, hệ thống chiếu sáng và thiết bị được xử lý ra sao?
Bao nhiêu phần được sử dụng lại? Bao nhiêu phần trở thành chất thải? Và những chi phí môi trường đó đã được tính đến ngay từ khi lập kế hoạch hay chưa?
Hiện chưa có đủ dữ liệu để kết luận các hoạt động sáng tạo được khảo sát đã tạo ra tác động môi trường tiêu cực hoặc giảm được phát thải ròng. Nhưng chính vì thiếu dữ liệu nên những tuyên bố về hiệu quả môi trường cần được sử dụng thận trọng.
Một thành phố khuyến khích sáng tạo xanh không nhất thiết phải yêu cầu mọi nhóm nghệ thuật nhỏ thực hiện báo cáo môi trường phức tạp. Tuy nhiên, với các chương trình quy mô lớn, việc lập kế hoạch thu hồi vật liệu, tiết kiệm năng lượng và giảm chất thải có thể được đưa thành yêu cầu cụ thể từ khâu tổ chức.
Bền vững, xét cho cùng, không nằm ở cách gọi một hoạt động mà ở những thay đổi thực tế trong việc sử dụng nguồn lực.
Chính sách đã có bước tiến, thước đo cũng phải tiến lên
Hà Nội không bắt đầu câu chuyện đánh giá kinh tế sáng tạo từ con số không.
Ngày 5/8/2026, UBND thành phố ban hành Quyết định số 4034/QĐ-UBND, phê duyệt Đề án bộ chỉ tiêu thống kê về các ngành công nghiệp văn hóa trên địa bàn.
Bộ chỉ tiêu gồm 62 chỉ tiêu thuộc bảy nhóm, bao quát 11 ngành công nghiệp văn hóa, từ đóng góp kinh tế, lao động, doanh nghiệp đến bản quyền, thị trường, hạ tầng, di sản và quản lý nhà nước.
Đây là bước tiến quan trọng trong năng lực quản trị. Khi công nghiệp văn hóa được xác định là một lĩnh vực phát triển kinh tế, thành phố cần có hệ thống dữ liệu đủ tin cậy để biết quy mô và sự biến đổi của lĩnh vực này.
Tuy nhiên, việc phê duyệt Đề án chưa đồng nghĩa toàn bộ chỉ tiêu đã được thu thập và công bố. Năm 2026 vẫn là giai đoạn tính toán, kiểm chứng khả năng thực hiện, trước khi hướng tới hoạt động thống kê thường xuyên hơn.
Quan trọng hơn, thống kê công nghiệp văn hóa và đánh giá đóng góp đối với phát triển bền vững có những đối tượng đo lường khác nhau.
Dữ liệu ngành có thể cho biết quy mô thị trường, số lượng doanh nghiệp, nguồn nhân lực hay mức độ thụ hưởng văn hóa. Nhưng để biết một sân chơi có an toàn và phù hợp với trẻ em khuyết tật, một công việc có đem lại thu nhập ổn định, một chương trình giáo dục có cải thiện năng lực của người học hay một sự kiện có giảm lượng chất thải hay không, cần những thông tin cụ thể hơn ở cấp hoạt động.
Điều này không đòi hỏi xây dựng thêm một bộ thống kê độc lập, càng không nên dẫn tới những thủ tục hành chính vượt quá khả năng của các nhóm sáng tạo nhỏ.
Giải pháp thiết thực hơn là tận dụng hệ thống dữ liệu đã có và bổ sung những thông tin thực sự cần thiết, tương xứng với quy mô và rủi ro của từng hoạt động.
Một buổi thực hành nghệ thuật nhỏ không cần cùng cách đánh giá với dự án can thiệp vào công trình di sản. Một sân chơi cần được theo dõi về mức sử dụng và bảo trì, trong khi mô hình việc làm hòa nhập cần quan tâm đến thu nhập, điều kiện làm việc và quyền của người lao động.
Đối với những dự án sử dụng nguồn lực công hoặc tác động đáng kể tới cộng đồng, việc đánh giá lợi ích, rủi ro và trách nhiệm của các bên cần được tính đến từ giai đoạn chuẩn bị.
Cách tiếp cận này phù hợp với hướng đổi mới thể chế mà Hà Nội đang theo đuổi.
Chẳng hạn, Nghị quyết số 24/2025/NQ-HĐND về trung tâm công nghiệp văn hóa đã đặt ra những yêu cầu cụ thể đối với cơ cấu hoạt động và không gian sử dụng, trong đó có việc dành tối thiểu 10% diện tích cho không gian làm việc chung và hạ tầng hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo, ươm tạo doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa.
Quy định này cho thấy chính sách đã bước đầu quan tâm đến những điều kiện vật chất hỗ trợ hoạt động sáng tạo, thay vì chỉ xác định mục tiêu phát triển bằng số lượng trung tâm được thành lập.
Nhưng khi một trung tâm đi vào hoạt động, chất lượng vận hành sẽ còn được quyết định bởi những yếu tố khác: ai thực sự có cơ hội sử dụng không gian, giá thuê có phù hợp với các nhóm sáng tạo nhỏ, dịch vụ hỗ trợ có đáp ứng nhu cầu và những quan hệ hợp tác nào được hình thành.
Một tỷ lệ diện tích có thể được kiểm tra bằng hồ sơ thiết kế. Khả năng sử dụng và giá trị thực tế của phần diện tích đó chỉ có thể được xác nhận qua hoạt động vận hành.
Khoảng cách giữa chính sách và kết quả không nhất thiết là dấu hiệu chính sách thất bại. Đó là phần việc tiếp theo cần được giải quyết bằng tổ chức thực hiện, dữ liệu đáng tin cậy và cơ chế điều chỉnh.
Khi đánh giá được cả những kết quả tốt lẫn giới hạn thực tế, thành phố sẽ có cơ sở để tiếp tục đầu tư vào những mô hình hiệu quả, sửa những cơ chế chưa phù hợp và tránh nhân rộng các hoạt động chỉ thành công ở bề nổi.
Thành phố sáng tạo phải giữ lại điều gì cho ngày mai?
Nhìn vào hành trình đã qua, Hà Nội có cơ sở để ghi nhận những thành tựu của mình.
Các mùa lễ hội đã đưa nghệ thuật và di sản đến gần công chúng hơn. Mạng lưới sáng tạo đã giúp nhận diện một lực lượng hoạt động phong phú. Những mô hình cộng đồng như Think Playgrounds, Vụn Art, Tí Toáy Atelier hay Hà Nội Nghệ Văn cho thấy sáng tạo có thể tham gia giải quyết các nhu cầu rất cụ thể của đời sống đô thị.
Cùng với đó, Luật Thủ đô năm 2026, những nghị quyết chuyên đề về thiết chế văn hóa và khu phát triển thương mại – văn hóa, cùng Đề án thống kê công nghiệp văn hóa đang mở rộng các công cụ chính sách phục vụ phát triển sáng tạo.
Những điều kiện ấy đáng ghi nhận. Chúng cho thấy thành phố đã chuyển từ việc khơi dậy tinh thần sáng tạo sang từng bước tìm kiếm những cơ chế để sáng tạo trở thành một nguồn lực phát triển.
Nhưng thành tựu cũng cần đi cùng khả năng tự đánh giá.
Nếu một không gian di sản thu hút thêm khách nhưng làm thu hẹp cơ hội kinh doanh của người dân tại chỗ, phần giá trị tăng thêm có thực sự là lợi ích chung?
Nếu một lớp học nghệ thuật rất tốt nhưng chỉ một nhóm trẻ em có khả năng tiếp cận, đâu là trách nhiệm của các bên trong việc mở rộng cơ hội?
Nếu một tổ chức tạo việc làm cho người khuyết tật đang gặp khó khăn tài chính, cần hỗ trợ như thế nào để bảo vệ giá trị xã hội mà vẫn bảo đảm hiệu quả sử dụng nguồn lực?
Nếu một lễ hội có thông điệp bảo vệ môi trường nhưng chưa biết lượng vật liệu bị thải bỏ sau khi kết thúc, đã đủ căn cứ để gọi đó là một hoạt động bền vững hay chưa?
Đây không phải những câu hỏi nhằm phủ nhận thành quả. Ngược lại, chúng chỉ trở nên thực sự cần thiết khi Hà Nội đã có đủ những hoạt động và chính sách để bước sang một giai đoạn phát triển đòi hỏi chất lượng cao hơn.
Trở lại với Vụn Art, những mảnh vải dư được chuyển thành sản phẩm thủ công là một thành quả sáng tạo có thể nhìn thấy. Nhưng giá trị sâu hơn nằm ở những cơ hội lao động, những kỹ năng được phát triển và khả năng tiếp tục tham gia đời sống xã hội của con người.
Tương tự, một sân chơi không chỉ có giá trị vào ngày khánh thành. Một không gian di sản không chỉ thành công khi có đông khách. Một mạng lưới sáng tạo không chỉ mạnh vì có nhiều thành viên. Và một chính sách không chỉ được đánh giá bằng thời điểm ban hành.
Giá trị của chúng phải được nhìn nhận trong đời sống thực tế, qua những cơ hội được mở rộng, những quyền lợi được bảo vệ và những nguồn lực có thể tiếp tục nuôi dưỡng sự phát triển.
Một thành phố sáng tạo không chỉ cần tạo ra nhiều giá trị mới. Thành phố ấy còn phải biết giá trị được tạo ra cho ai, bằng những nguồn lực nào, với những đánh đổi gì và điều gì sẽ còn lại cho thế hệ tiếp theo.
Hà Nội đã có những nền tảng quan trọng để đi theo hướng đó. Thước đo của chặng đường tiếp theo không chỉ là quy mô của sáng tạo, mà là khả năng biến sáng tạo thành những cải thiện có thể nhận diện trong chất lượng sống của người dân.
Bởi sau tất cả, mục tiêu lớn nhất của phát triển sáng tạo không phải để một thành phố được nhắc đến nhiều hơn, mà để thành phố ấy ngày càng đáng sống hơn.
————————-
Bài viết được phát triển từ nghiên cứu “Sáng tạo vì phát triển bền vững: Đối chiếu hoạt động của Hà Nội với các mục tiêu phát triển bền vững trọng tâm”, thuộc chương trình nghiên cứu phục vụ Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội 2026. Nội dung sử dụng các văn bản chính sách, nghiên cứu chuyên đề và tư liệu phỏng vấn trực tiếp do nhóm thực hiện lưu giữ. Những số liệu do nhân vật cung cấp được phân biệt với thống kê độc lập. Thông tin cập nhật đến ngày 15/10/2026.









