Đóng

Nguyễn Thế Sơn: “Muốn hiểu phố nghề, phải bước vào đình phố”

Từ Văn Miếu – Quốc Tử Giám, qua những ngôi đình ẩn trong các phố Hàng rồi nối tới chợ Đồng Xuân, giám tuyển, họa sĩ Nguyễn Thế Sơn đang lần theo một mạch văn hóa mà anh cho rằng từng làm nên sức sống của Thăng Long – Kẻ Chợ: tổ nghề, phường nghề, phố nghề và những “ngôi nhà chung” của cộng đồng. Với anh, đưa nghệ thuật vào đình phố không phải để biến di tích thành phòng triển lãm, mà để đánh thức ký ức nơi chốn – trong sự tôn trọng tuyệt đối đối với tính linh thiêng và đời sống cộng đồng của di sản.

Họa sĩ Nguyễn Thế Sơn. Ảnh: NVCC

Dự án mà Nguyễn Thế Sơn đang thực hiện trong khuôn khổ Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội kết nối ba lớp không gian: Văn Miếu – Quốc Tử Giám, hệ thống đình trong khu phố cổ và chợ Đồng Xuân. Điểm mở đầu là triển lãm “Phố nghề, Tổ nghề và Kỹ nho nước Việt”, từ đó dẫn công chúng đi sâu vào câu chuyện các vị tổ nghề, những phường nghề và các ngôi đình từng là hạt nhân của những cộng đồng ấy. 

Đây cũng là sự tiếp nối của “Chuyện đình trong phố”, dự án đã được triển khai trong nhiều năm nhằm đưa nghệ thuật, nghề truyền thống và công chúng trở lại các ngôi đình trong phố cổ. Năm 2024, dự án từng được đề cử hạng mục “Việc làm – Vì tình yêu Hà Nội” của Giải Bùi Xuân Phái; các trưng bày tại đình Hà Vĩ, Tú Thị, Yên Thái… đã góp phần đưa những không gian vốn chỉ mở cửa hạn chế trở lại đời sống cộng đồng. 

HanoiCreativeCity.com trao đổi với giám tuyển Nguyễn Thế Sơn về cách anh nhìn đình phố, giới hạn của sáng tạo trong không gian linh thiêng và vì sao muốn hiểu Hà Nội như một thành phố của phố nghề, cần trở lại với chính những “ngôi nhà chung” ấy.

– Vì sao anh chọn Văn Miếu – Quốc Tử Giám làm điểm bắt đầu cho câu chuyện về phố nghề?

– Khi nói tới phố nghề, người ta thường bắt đầu từ 36 phố phường. Nhưng tôi muốn đi ngược thêm một lớp.

Trước phố nghề là phường nghề. Trước phường nghề là những người mang nghề về, truyền nghề cho cộng đồng – những ông tổ nghề.

Điều thú vị là trong số các tổ nghề của Việt Nam có những người vốn là tiến sĩ, những người đi sứ, học hỏi kỹ thuật rồi mang nghề về truyền lại. Chẳng hạn Phạm Đôn Lễ gắn với nghề dệt chiếu, Trần Lư gắn với nghề sơn. Trong triển lãm ở Văn Miếu, chúng tôi nhắc tới tám vị tiến sĩ gắn với tám nghề khác nhau. 

Tôi muốn công chúng thấy một hình ảnh khác về người trí thức xưa. Họ không chỉ học để làm quan hay làm thơ phú. Có những người nhập thế rất rõ, tiếp nhận kỹ thuật, truyền nghề, tạo sinh kế cho cộng đồng. Chính ở điểm này, Văn Miếu – Quốc Tử Giám có thể nối với câu chuyện của Kẻ Chợ.

Triển lãm ở Văn Miếu vì thế chỉ là điểm khởi đầu. Sau đó, người xem phải đi vào phố.

– Và khi bước vào phố, theo anh, phải tìm đến đâu để hiểu được “hồn” của một phố nghề?

– Phải tìm đến đình.

Các phường nghề từ những vùng quê khác nhau tụ về Thăng Long, mang theo nghề, sản vật, kỹ năng. Khi hình thành cộng đồng ở đô thị, họ lập những ngôi đình để thờ vọng tổ nghề. Đình trở thành ngôi nhà chung của cộng đồng ấy. 

Ngày nay, khi nói đến đình, nhiều người chỉ nghĩ đến đình làng ở nông thôn. Nhưng trong phố cổ có cả một hệ thống đình phố. Nó là hạt nhân của đời sống phường nghề.

Muốn hiểu phố Hàng Hòm từng là gì thì phải biết đình Hà Vĩ, biết Trần Lư và nghề sơn. Muốn hiểu Yên Thái thì phải biết đình Tú Thị và câu chuyện nghề thêu. Muốn hiểu Hàng Bạc thì phải đi tới đình Kim Ngân.

Những tên phố nếu chỉ còn là biển tên thì mới là lớp vỏ. Đình và câu chuyện của cộng đồng nghề phía sau nó mới giúp mình hiểu tại sao phố ấy có tên như vậy.

Phù điêu ảnh Đình trong Phố của hoạ sĩ Nguyễn Thế Sơn. Ảnh: NVCC

– Anh đã bắt đầu đi tìm những ngôi đình này từ khá sớm?

– Năm 2013 tôi làm dự án cá nhân “Tôi đi tìm ngôi nhà chung”. Tôi tự coi mình như một người “xuyên không” đi tìm lại những ngôi đình từng là nhà chung của các cộng đồng nghề.

Khi đó, trong số hơn 60 ngôi đình được ghi nhận ở khu vực phố cổ, tôi chỉ tìm và nhận diện được hơn 20 ngôi. Nhiều ngôi đình đã mất dấu, thay đổi công năng hoặc bị che khuất trong cấu trúc đô thị. 

Những năm sau, nhiều di tích được thành phố và chính quyền địa phương trùng tu. Nhưng tôi nhận ra một vấn đề: “thể xác” có thể được phục hồi, còn “hồn” thì chưa chắc quay lại.

Bởi cộng đồng nghề cũ không còn như trước. Người sống trên phố không nhất thiết còn làm nghề ấy. Ngôi đình không còn vận hành như ngôi nhà chung của một cộng đồng có chung ký ức nghề nghiệp. 

Thế nên câu hỏi không chỉ là sửa lại mái ngói hay kiến trúc. Sau khi trùng tu, làm thế nào để ngôi đình lại có đời sống?

– Và câu trả lời của anh là đưa nghệ thuật vào?

– Nghệ thuật là một cách.

Từ khoảng năm 2020, chúng tôi bắt đầu phối hợp với địa phương đưa những dự án nghệ thuật vào các đình đã được phục hồi. Nhưng nghệ thuật không phải để “trang trí” cho di tích.

Mỗi dự án phải kể lại câu chuyện của chính nơi đó.

Ở đình Hà Vĩ, nơi thờ tổ nghề sơn Trần Lư, chúng tôi làm những triển lãm về sơn, sơn mài. Tôi còn mang đất từ Phú Thọ về và trồng hai cây sơn ta trong sân đình, bởi cả phố Hàng Hòm từng gắn với nghề sơn nhưng ngày nay rất ít người trên phố còn biết cây sơn ta trông như thế nào. 

Tại đình Tú Thị, câu chuyện đi vào nghề thêu. Ở đình Vũ Thạch, dự án gần đây kết nối lịch sử phố thợ khảm với nghệ nhân Chuyên Mỹ và nghệ sĩ đương đại. Chính quyền phường Cửa Nam cũng xác định dự án này không chỉ là một triển lãm mà hướng tới kết nối di tích, nghề truyền thống, du lịch văn hóa và công nghiệp văn hóa. 

Khi những hoạt động như vậy diễn ra liên tục, một ngôi đình vốn ít người biết bắt đầu trở thành điểm đến. Nó có thêm một cộng đồng mới: những người yêu nghệ thuật, yêu văn hóa và di sản.

– Nhưng đình trước hết vẫn là một không gian tín ngưỡng. Đưa nghệ thuật đương đại vào đó có phải là một việc rất nhạy cảm?

– Đương nhiên.

Sáng tạo có thể không có ranh giới, nhưng khi làm trong không gian di sản thì người nghệ sĩ và giám tuyển phải hiểu văn hóa, hiểu cộng đồng và biết tôn trọng nơi mình bước vào.

Chúng tôi ít khi tác động vào phần sâu bên trong của không gian thờ tự. Hoạt động chủ yếu diễn ra ở những phần mở, như sân đình – vốn từ xưa đã là nơi hội họp, sinh hoạt chung của cộng đồng.

Mỗi ngôi đình có cấu trúc khác nhau, nên không thể mang một kịch bản áp cho tất cả. Phải xem chính không gian đó cho phép làm gì rồi mới thiết kế tác phẩm. Tác phẩm phải đối thoại được với nơi chốn và không làm ảnh hưởng đến tính tôn nghiêm của không gian thờ tự. 

Đó là lý do khi chọn nghệ sĩ, ngoài năng lực nghề nghiệp, tôi coi trọng tình yêu với văn hóa, di sản và tinh thần đóng góp cho cộng đồng. Đây là dự án cộng đồng, nên đôi khi khả năng chia sẻ và kết nối còn quan trọng hơn việc nghệ sĩ muốn thể hiện cái tôi của mình đến đâu. 

– Vậy nghệ thuật ở đây đóng vai trò gì?

– Tôi gọi cách làm của mình là làm việc với tinh thần nơi chốn.

Một địa điểm chỉ thực sự thành “nơi chốn” khi nó có ký ức.

Nghệ thuật có thể giúp một địa điểm được bồi đắp lại những lớp ký ức đã bị đứt gãy. Tôi từng làm điều đó ở Phùng Hưng, Phúc Tân, ga Long Biên, cầu đi bộ Trần Nhật Duật… Với đình phố cũng vậy. 

Ví dụ, khi một người trẻ bước vào đình Hà Vĩ, thấy cây sơn ta, xem một tác phẩm sơn mài rồi nghe câu chuyện về Trần Lư, họ bắt đầu nối được tên Hàng Hòm với một lịch sử nghề nghiệp.

Nghệ thuật làm cho việc chạm vào lịch sử trở nên dễ hơn.

Nếu chỉ đọc sử liệu, nhiều người sẽ thấy xa. Nhưng một tác phẩm, một vật liệu, một workshop hoặc một nghệ nhân đang thực hành nghề ngay trước mắt có thể mở cánh cửa khác.

– Trong dự án lần này, vì sao anh lại muốn nối Văn Miếu – hệ thống đình phố – chợ Đồng Xuân thành một trục?

– Vì nếu chỉ kể riêng từng đình thì chưa đủ.

Tôi muốn người xem thấy cả một hệ sinh thái từng vận hành.

Từ Văn Miếu là câu chuyện về những trí thức, những tổ nghề. Từ đó đi xuống các phường nghề, phố nghề và những ngôi đình – nơi cộng đồng thực hành nghề sống với nhau. Cuối cùng, sản phẩm của các nghề ấy đi đâu? Nó đi ra chợ, và chợ Đồng Xuân là một đầu mối rất quan trọng.

Ngày trước, buôn bán còn gắn với hệ thống sông nước. Chợ Đồng Xuân không nên chỉ được nhìn như một tòa nhà chợ hiện nay. Cả khu vực ấy từng gắn với đường thủy, những dòng sông, bến thuyền và việc gom hàng từ các phố nghề để lưu thông. 

Tôi đang nghĩ đến một tác phẩm sắp đặt tại khu vực giếng trời của chợ Đồng Xuân, gợi lại những chiếc thuyền và cánh buồm cói. Từ đó lại nối được tới Hàng Chiếu, tới Phạm Đôn Lễ và nghề dệt chiếu. 

Những kết nối như thế giúp người xem nhận ra thành phố không được hình thành bởi các di tích đứng riêng lẻ. Nó là một mạng lưới kinh tế, cộng đồng, nghề nghiệp và văn hóa.

– Có phải vì vậy anh coi đình phố như một “mỏ neo” của ký ức đô thị?

– Đúng.

Hà Nội luôn thay đổi. Người sống trên một con phố hôm nay có thể không còn liên quan đến cộng đồng từng tạo nên con phố ấy. Các lớp dân cư liên tục thay đổi và ký ức cũng thay đổi.

Trong hoàn cảnh đó, những không gian như đình phố có thể trở thành mỏ neo của ký ức nơi chốn.

Lớp người mới có thể đến, nhưng nếu câu chuyện cũ vẫn tiếp tục được kể thì nơi ấy vẫn còn hồn. Nếu mất hết ký ức, một địa điểm rất dễ trở thành nơi có thể thay bằng bất cứ thứ gì khác. 

Tôi vẫn nói rằng người ta thường bảo phải yêu Hà Nội. Nhưng muốn yêu thì phải biết mình yêu điều gì.

Không thể chỉ nói Hà Nội nghìn năm văn hiến rồi yêu một cách chung chung. Một người trẻ phải biết tại sao Hàng Hòm gọi là Hàng Hòm, tại sao Hàng Bạc là Hàng Bạc, ai đã truyền nghề, cộng đồng nào từng sống ở đó, đình nào là nhà chung của họ.

Khi biết những điều cụ thể ấy, tình yêu thành phố mới có một cái neo.

Phù điêu ảnh Khu tập thể D8 Thành Công của hoạ sĩ Nguyễn Thế Sơn. Ảnh: NVCC

– Nếu phải nói ngắn gọn nhất về điều anh muốn công chúng nhận được từ dự án này?

– Tôi muốn mọi người hiểu rằng di sản không nên được giữ bằng cách đóng khung hay đặt trong lồng kính.

Một di sản sống là một di sản tìm được ý nghĩa mới trong đời sống mới và với cộng đồng mới. 

Các ngôi đình từng là nhà chung của một phường nghề. Hôm nay cộng đồng ấy có thể đã thay đổi. Nhưng đình vẫn có thể trở thành nơi gặp gỡ của những người yêu nghề, yêu nghệ thuật, yêu di sản.

Điều quan trọng là khi tạo ra đời sống mới cho nó, mình vẫn phải giữ được tinh thần nơi chốn.

Bởi nếu cái mới xóa mất lý do khiến nơi đó trở thành chính nó, thì dù có rất nhiều hoạt động, mình cũng chưa chắc đã bảo tồn được di sản.

Từ một cuộc đi tìm “ngôi nhà chung” bắt đầu hơn một thập niên trước, Nguyễn Thế Sơn đang tiếp tục mở rộng câu chuyện đình phố thành một tuyến đọc Hà Nội: từ người truyền nghề đến cộng đồng nghề, từ đình tới phố, từ phố tới chợ.

Trong cách nhìn ấy, thiết kế và nghệ thuật không đứng ngoài di sản để làm cho di sản “đẹp hơn”. Chúng trở thành phương tiện giúp những lớp ký ức bị che khuất được nhìn thấy trở lại.

Và có lẽ đó cũng là điểm đáng chú ý của một Thành phố Sáng tạo: sáng tạo không nhất thiết bắt đầu bằng việc tạo thêm một vật mới. Đôi khi, nó bắt đầu bằng việc nhìn đủ sâu vào một nơi cũ để nhận ra những giá trị vẫn còn khả năng tiếp tục sống.