
Trải nghiệm di sản đô thị: Cơ hội học hỏi cho học sinh Thủ đô
Học sinh Hà Nội đang có một cách tiếp cận mới đối với di sản đô thị: Học qua trải nghiệm thay vì chỉ học trên lớp. Thông qua các tuyến hoạt động văn hoá, các chương trình ngoại khoá và những sự kiện cộng đồng diễn ra ngay trong thành phố, học sinh được “chạm” vào di sản bằng những giờ học thực tế, vừa dễ tiếp thu vừa giàu cảm xúc. Những trải nghiệm ấy bồi đắp kiến thức, nuôi dưỡng niềm tự hào và cảm giác gắn bó với nơi mình sống. Quan trọng hơn, chúng mở ra một tầng nhận thức mới, góp phần tạo cơ hội và thúc đẩy thế hệ trẻ có thể trở thành lực lượng tham gia vào công nghiệp văn hoá – sáng tạo trong tương lai.
Cùng với học sinh, nhiều gia đình cũng tìm được một “lý do” để đi cùng con. Những cuối tuần khám phá di tích, kiến trúc và các câu chuyện lịch sử trở thành thời gian chất lượng, khi cha mẹ và con cái cùng học, cùng quan sát, cùng đặt câu hỏi về quá khứ của Hà Nội.
Học tại di tích
Đã có giai đoạn, giới trẻ bị nhận xét là thiếu kiến thức lịch sử, văn hoá. Nhưng nhìn thẳng vào thực tế, người lớn cũng góp phần tạo nên khoảng cách ấy. Ở trường, lịch sử thường bị đẩy vào khuôn “môn học chính khoá”. Ở gia đình và cộng đồng, đình chùa đền miếu đôi khi mặc nhiên được coi là không gian nghiêm cẩn của người lớn tuổi. Trẻ con tò mò, hỏi han, nhiều lúc lại bị nhắc nhở. Di sản vì thế dần rời khỏi đời sống thường ngày.
Sự thay đổi đang diễn ra theo hướng ngược lại. Tây Hồ là một ví dụ rõ nét: 100% trường tiểu học và trung học trên địa bàn tổ chức các tiết giáo dục lịch sử, văn hoá trực tiếp tại di tích thay vì chỉ học lý thuyết. Giữa tháng 10/2024, học sinh lớp 4A5 và 4A9 của Trường Tiểu học Xuân La đã tham quan đình Quán La và khu lưu niệm Bác Hồ tại phường Xuân La. Các em được nghe kể về sự ra đời, nét đẹp của đình, rồi bất ngờ khi biết nơi đây và phường Xuân La từng nhiều lần đón Bác Hồ về thăm. Cô giáo Nguyễn Thị Huyền Trang, người trực tiếp giảng dạy tiết học, cũng chia sẻ niềm vui khi học sinh hăm hở tìm hiểu những câu chuyện của chính địa phương mình. Từ chỗ xa lạ, di tích trở nên gần gũi, có ký ức, có cảm tình.

Hình ảnh các em học sinh tham quan học tập tại đình Quán La. Ảnh: Trường tiểu học Xuân La
Cách “học tại chỗ” cũng được mở rộng ở nhiều quận khác. Đền Đồng Cổ là điểm đến quen thuộc của học sinh phường Bưởi, trong khi đình Nhật Tân giúp các em tiếp cận câu chuyện văn hoá của làng đào. Quận Hai Bà Trưng có di tích quốc gia đặc biệt đền thờ Hai Bà Trưng ở phường Đồng Nhân. Quận Đống Đa thường gắn với gò Đống Đa và Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Quận Cầu Giấy ngoài các di tích lịch sử còn có những điểm học gắn với làng nghề như làng cốm Vòng, làng Cót làm giấy. Nhiều trường không dừng ở tham quan mà yêu cầu “bài thu hoạch” bằng biểu diễn văn nghệ, cuộc thi kiến thức hoặc sản phẩm sáng tạo. Những không gian vốn thâm nghiêm được “mở” ra theo cách thân thiện hơn với trẻ em.
Đưa người trẻ quay lại với vốn xưa
Dạy con trở thành “công dân toàn cầu” là xu hướng dễ hiểu, khi thế giới phẳng hơn và cơ hội học tập, làm việc xuyên biên giới ngày càng phổ biến. Ngoại ngữ, công nghệ, hiểu biết về các xu hướng văn hoá quốc tế là hành trang cần thiết. Nhưng càng đi xa, câu chuyện bản sắc và căn tính càng trở nên quan trọng. Nhiều bạn trẻ Việt Nam trong môi trường quốc tế sẽ được hỏi về quê hương, lịch sử, truyền thống văn hoá. Nếu không đủ hiểu biết để giới thiệu về đất nước mình, cảm giác lạc lõng là điều khó tránh. Toàn cầu hoá mạnh, nhưng bản địa hoá cũng mạnh. Khi không trả lời được mình là ai, đến từ đâu, sẽ rất khó đứng vững trong một thế giới mở.
Những hoạt động đưa người trẻ quay lại với vốn xưa, như các buổi diễn Xẩm trong phố do Trung tâm Xúc tiến quảng bá di sản phi vật thể Việt Nam tổ chức, cho thấy nhu cầu kết nối ấy không hề “cũ”. Từ câu chuyện của Team Châu Phi – một nhóm bạn người Việt tại Angola có thể thấy rõ một điểm: Ở nước ngoài, mỗi cá nhân không chỉ đại diện cho mình, mà còn ảnh hưởng đến hình ảnh quốc gia. Khi bước ra thế giới, mỗi người đều trở thành một “đại sứ” văn hoá theo cách riêng – Và không có công dân toàn cầu nào lại không có quê hương.
Trải nghiệm di sản – Từ giáo dục đến thực hành hiệu quả
Ngoài chương trình giáo dục lịch sử địa phương đã triển khai ở hệ phổ thông, Hà Nội còn có một hệ chương trình trải nghiệm di sản do các thiết chế văn hoá và đơn vị quản lý di tích tổ chức. Hoàng thành Thăng Long có các hoạt động như: “Em tìm hiểu di sản”, “Em làm nhà khảo cổ”. Văn Miếu – Quốc Tử Giám xây dựng nhiều chủ đề dành cho các lứa tuổi: “Ơ kìa con nghê”, “Khám phá bia Tiến sĩ”, “Đi tìm linh vật trên kiến trúc cổ Văn Miếu”, “Lớp học xưa”, “Đánh giá môi trường di tích”, “Vinh quy bái tổ”… Mỗi chủ đề là một “cửa” để học sinh bước vào di sản bằng cảm giác khám phá thay vì học thuộc.


Ảnh: Di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám
Trong bối cảnh hội nhập, khai thác sức mạnh nội tại từ văn hoá và di sản mang lại lợi thế cạnh tranh rõ rệt. Cách nhìn về văn hoá vì thế cũng đang thay đổi. Nếu trước đây văn hoá thường bị coi là lĩnh vực “tiêu tiền” cho tuyên truyền, cổ động, thì sự phát triển của công nghiệp văn hoá khiến văn hoá dần được nhìn như nguồn lực tạo ra giá trị kinh tế. Di sản truyền thống trở thành nguyên liệu cho nhiều lĩnh vực: Du lịch văn hoá, mỹ thuật, kiến trúc, thiết kế, nghệ thuật biểu diễn, thủ công mỹ nghệ, điện ảnh, xuất bản, game và nội dung giải trí số. Gieo mầm tình yêu di sản cho giới trẻ cũng đồng nghĩa mở thêm một cánh cửa nghề nghiệp cho các em.
Trong một giai đoạn cao điểm của mùa hoạt động văn hoá sáng tạo năm 2024, học sinh và gia đình có thể khám phá nhiều công trình kiến trúc và dấu tích lịch sử quen mà lạ của Hà Nội như Cung Thiếu nhi Hà Nội, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Nhà hát Lớn, Đại học Quốc gia Hà Nội, Bắc Bộ Phủ… qua các hình thức trưng bày, triển lãm, trình diễn nghệ thuật, tọa đàm và workshop. Điều được gợi ra không chỉ là kiến thức về quá khứ, mà còn là nguồn cảm hứng để người trẻ nhìn thấy mối liên hệ giữa di sản và sáng tạo đương đại, từ đó tìm được “cú hích” cho hành trình nghề nghiệp của mình trong các lĩnh vực văn hoá – sáng tạo.
Góc nhìn của giới chuyên môn cũng nhấn mạnh vai trò trung tâm của giáo dục trong bảo tàng và di tích. Tiến sĩ Lê Thị Minh Lý, Phó Chủ tịch Hội Di sản văn hóa Việt Nam, từng nhận định giáo dục di sản là khái niệm tưởng như quen thuộc nhưng vẫn còn mới mẻ đối với một số bảo tàng ở Việt Nam; việc tìm kiếm quan điểm, cách tiếp cận và phương pháp mới là cần thiết và đầy thách thức. Thạc sĩ Nguyễn Thị Thu Hoan, Phó Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quốc gia, nhấn mạnh: Giáo dục gắn với sự tham gia của cộng đồng là nhiệm vụ quan trọng của một bảo tàng hiện đại. Bà cho biết: Bảo tàng Lịch sử quốc gia đã nỗ lực đổi mới hoạt động giáo dục trải nghiệm tại chỗ đồng thời qua hợp tác với gần 30 bảo tàng, di tích trên cả nước.
Ở góc nhìn quản lý, ông Nguyễn Hải Ninh, Trưởng phòng Quản lý Bảo tàng và Di sản Tư liệu (Cục Di sản văn hóa), cho rằng: Bảo tàng tạo cơ hội để các thế hệ kết nối với di sản thông qua trưng bày, hòa nhạc, sự kiện văn hoá và các chương trình giáo dục; việc giúp người trẻ hiểu và cảm nhận giá trị di sản góp phần hình thành ý thức và trách nhiệm bảo vệ, phát huy di sản. Tuy nhiên, khi áp dụng phương pháp tiếp cận đa ngành, các bảo tàng và di tích đối diện nhiều khó khăn: Khối lượng tri thức phức tạp, yêu cầu kỹ năng phân tích sâu, thiếu chuyên gia đa lĩnh vực như âm nhạc, mỹ học, tâm lý học, cùng thách thức cân bằng giữa phát triển và bảo tồn trong bối cảnh đô thị hoá.
Từ phía người làm di tích, bà Đường Ngọc Hà, Trưởng phòng Giáo dục – Truyền thông (Trung tâm VHKH Văn Miếu – Quốc Tử Giám), nhìn nhận giáo dục di sản ở nhiều nơi vẫn trong giai đoạn mày mò; dù Việt Nam tích cực trong ghi danh và quảng bá, giáo dục di sản mới được chú ý trong thực hành và nghiên cứu khoảng 10 năm trở lại đây, và di sản vẫn thường được nhìn như tài nguyên du lịch hơn là chất liệu giáo dục. Kết luận một tọa đàm chuyên môn, Phó Cục trưởng Cục Di sản văn hóa Phạm Định Phong nhấn mạnh mỗi bảo tàng, di tích cần có kế hoạch phát triển giáo dục riêng, tăng cường nắm bắt nhu cầu công chúng, nghiên cứu sáng tạo các chương trình hấp dẫn và thực hành thường xuyên, gắn với phát triển công chúng, truyền thông và marketing.
Tóm lại, khi Hà Nội coi di sản là “học liệu sống”, thành phố đang làm hai việc cùng lúc: Đưa lịch sử trở về đời sống thường ngày của học sinh, và chuẩn bị một thế hệ có bản sắc để bước vào kỷ nguyên sáng tạo. Giáo dục là thước đo hiệu quả của bảo tàng và di tích, nhưng cũng là điểm khởi đầu để di sản đồng hành với đời sống đương đại, thay vì đứng yên như một ký ức bị đóng khung.


