Đóng

Nghệ nhân Nguyễn Thế Nghị: “Rối nước không chỉ là biểu diễn, mà là văn hóa đình làng trên mặt nước”

Đằng sau những con rối chuyển động trên mặt nước là cả một thế giới khuất lấp: bàn tay người điều khiển, sào, dây, que, bè, tiếng hát, nhạc cụ, thủy đình, ký ức làng và những bí mật từng được gìn giữ như lời thề của phường rối. Trong cuộc trò chuyện nhân dịp Summer Camp Re:Craft 2026 – Làng nghề Tái sinh, nghệ nhân Nguyễn Thế Nghị, Trưởng ban Văn hóa kiêm nghệ nhân phường múa rối nước thôn Đào Thục, chia sẻ về sức hấp dẫn, sự gian khó và chiều sâu văn hóa của một loại hình nghệ thuật sinh ra từ nền văn minh lúa nước.

Nghệ nhân Nguyễn Thế Nghị chia sẻ với sinh viên về múa rối nước Đào Thục. Ảnh: Hanoicreativecity.com

Múa rối nước là một nghệ thuật đặc biệt: nhân vật hiện lên trên mặt nước, còn người làm cho nhân vật sống lại hoàn toàn ẩn mình phía sau buồng trò. Người xem nhìn thấy con rối, tiếng hát, ánh cờ, con trâu, con hổ, con rồng, thuyền hội, những tích trò dân gian; nhưng phần lớn kỹ thuật điều khiển, ảo thuật, sức lực và sự phối hợp tập thể đều nằm ở phía sau, dưới nước, trong một không gian khuất khỏi ánh nhìn.

Ở Đào Thục, phường rối không chỉ giữ các tích trò truyền thống, mà còn lưu giữ một cách hiểu về rối nước như một phần của văn hóa đình làng. Sân khấu không đơn thuần là mặt nước, mà là thủy đình – một ngôi đình dưới nước, gắn với lễ hội, tâm linh, ký ức nông nghiệp và đời sống cộng đồng. Chính vì vậy, khi rối nước rời ao làng để đến sân khấu hiện đại, trường học, khu du lịch hay bể diễn nhân tạo, nghệ thuật ấy có thêm cơ hội tiếp cận công chúng mới, nhưng đồng thời cũng đứng trước câu hỏi: điều gì được mở rộng, và điều gì có nguy cơ mất đi?

Thưa nghệ nhân Nguyễn Thế Nghị, rối nước Đào Thục từng có cơ chế truyền nghề rất khép kín. Điều đó còn đúng đến hôm nay không?

Ngày xưa đúng là có quan niệm như vậy. Các cụ coi rối nước là một nghề rất huyền bí, rất quý, gần như một bí mật. Có thời không truyền cho con gái, vì sợ con gái đi lấy chồng rồi mang nghề sang làng khác. Thậm chí có giai đoạn vào phường phải “cắt máu ăn thề”. Vẫn có câu vè là “cắt máu ăn thề giữ nghề truyền thống”.

Nhưng bây giờ thời đại mở cửa rồi, quan niệm ấy không còn nữa. Ai có tâm, có mong muốn, có nguyện vọng vào phường thì trải qua thời gian thử thách, sau đó được công nhận. Bây giờ không còn chuyện giữ bí quyết theo kiểu khép kín. Quan trọng nhất là người trong làng yêu nghề.

Các nghệ nhân Múa rối nước Đào Thục tập luyện. Ảnh: Hanoicreativecity.com

Ông vào nghề theo con đường nào? Lần đầu được đứng sau buồng trò, cảm xúc của ông ra sao?

Tôi sinh ra và lớn lên ở làng nghề, nên mọi bí quyết không quá xa lạ. Từ khi còn nhỏ, biết nhận thức là đã được xem các cụ, các bác nghệ nhân biểu diễn vào dịp hội làng, Tết cổ truyền.

Tôi cũng đi theo mẹ từ bé để tập luyện, biểu diễn, tham gia các buổi diễn. Vì thế, trước khi chính thức vào nghề, tôi đã thuộc làu các lời ca, câu hát trong nghệ thuật múa rối nước của làng mình. Đến khi lớn lên, tôi xin vào phường. Với tôi, việc học nghề không quá khó, vì may mắn có mẹ là lớp nghệ nhân đi trước và mình được theo truyền thống gia đình.

Người điều khiển rối nước phải ẩn mình để nhân vật được sống trên sân khấu. Với ông, đó là sự hy sinh hay là nét đẹp của nghệ thuật?

Nghệ thuật múa rối nước khác biệt với hầu hết các nghệ thuật trên cạn, vì sân khấu của nó hoàn toàn trên mặt nước. Các thiết bị điều khiển, các bí mật, những yếu tố ảo thuật thường được giấu kín dưới nước.

Ví dụ như đốt pháo, bật cờ: cờ bật từ dưới nước lên mà không ướt, vẫn tung bay trước gió. Hay tiết mục “Trâu chui ống” của Đào Thục: con trâu to hơn cái ống, cái ống tròn, nghệ thuật rối lại điều khiển bằng sào, vậy mà con trâu vẫn chui qua được. Hoặc cảnh tráng sĩ chém hổ, tại sao lại chém đứt được đầu hổ? Mỗi tiết mục đều có một sự ảo thuật riêng.

Sự hấp dẫn của rối nước chính là ở chỗ đó: người xem không thấy hết cách làm, nhưng cảm nhận được sự sống của con rối trên mặt nước.

Theo ông, rối nước chứa đựng những lớp nghệ thuật nào?

Trong nghệ thuật múa rối nước có rất nhiều môn nghệ thuật khác. Có tuồng, chèo, quan họ, có các trò chơi dân gian, có tái hiện lễ hội như đua trâu, chọi trâu, múa rồng, múa lân, đánh đu, hát quan họ, thuyền rồng…

Tức là những gì trên bờ có thì nghệ thuật múa rối nước đều có thể chứa đựng. Nó là một sân khấu truyền thống rất đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.

Rối nước bắt nguồn từ người nông dân, từ mưa nắng ruộng đồng, từ nền văn minh lúa nước. Chính sự huyền bí dưới mặt nước, khác với các nghệ thuật trên cạn, tạo nên sức hấp dẫn rất riêng. Người nước ngoài thường rất thán phục khi thấy nghệ nhân phải ngâm mình dưới ao hàng tiếng đồng hồ, nhất là vào mùa đông giá lạnh. Đằng sau vẻ đẹp ấy là rất nhiều vất vả, gian khổ và cả nguy hiểm.

Con rối nước. Ảnh: Hanoi creativecity.com

Kỹ thuật điều khiển rối nước bằng sào, dây, que, bè có phụ thuộc nhiều vào điều kiện mặt nước không?

Có. Nhưng với người nông dân thì điều đó trở thành thói quen. Các nghệ nhân rối nước phần lớn xuất thân từ nông dân, quen với cày, bừa, cấy, hái, quen với nước, với bùn, với ruộng đồng.

Ngay từ khi chưa vào phường, khi đi cấy, đi cày, người ta đã quen với những câu hát, lời ca, quen cắm sào vào bó mạ hay đám bèo để tạo ra những hình ảnh ngẫu hứng. Vì vậy, với người nông dân yêu nghề, thích nghề, đam mê thì học rối nước khá nhanh.

Phường rối Đào Thục hội tụ nhiều yếu tố khó của nghệ thuật múa rối nước như rối sào, rối bè, rối dây, rối que, rối đống. Có thể nói đây là một sự tổng hợp của nghệ thuật múa rối nước.

Khi rối nước từ ao làng bước vào nhà hát, bể nhân tạo, trường học hay sân khấu lưu động, điều gì được thêm vào và điều gì có thể mất đi?

Thời hiện đại có nhiều loại hình văn hóa du nhập, khiến sự quan tâm của khán giả đối với rối nước có lúc nhạt đi, nhất là với các bạn trẻ. Việc đưa rối nước đi diễn ở nhiều nơi giúp linh hoạt hơn, có thể tiếp cận công chúng mới, có thể tạo thu nhập nhanh hơn. Khách ở đâu thì diễn ở đó, về mặt kinh tế có cái lợi.

Nhưng nếu nhìn sâu hơn, rối nước có thể mất đi một phần huyền bí. Ngày xưa, rối nước diễn ở đình, chùa, sân đình, sân chùa – những nơi linh thiêng của làng. Nó có những tiết mục mang yếu tố tâm linh, văn hóa cộng đồng, chứ không chỉ là biểu diễn giải trí.

Bây giờ, vì tiện ích và linh động, rối nước có thể diễn ở trường học, sân bãi, bệnh viện, thậm chí trên núi, miễn là có nước bơm vào. Nhưng dù sao, nó vẫn mất đi phần tâm linh và huyền bí của không gian gốc.

Vì sao không gian thủy đình lại quan trọng đến vậy?

Người ta xem rối nước không chỉ như xem một môn nghệ thuật bình thường. Nó còn mang yếu tố văn hóa đình chùa. Sân khấu của rối nước là thủy đình, tức là một ngôi đình ở dưới nước. Nó chứa đựng văn hóa tâm linh của người Việt, văn hóa của nền văn minh lúa nước.

Nếu chỉ coi rối nước như một gánh hát có thể diễn ở đâu cũng được thì sẽ không thấy hết chiều sâu của nó. Rối nước không chỉ là con rối chuyển động trên mặt nước. Nó là cả một không gian văn hóa.

Múa rối nước là nghệ thuật tập thể. Theo ông, cá nhân giỏi có đủ làm nên một phường rối tốt không?

Không. Một chương trình múa rối nước chất lượng đòi hỏi sự kết hợp giữa nhiều nghệ nhân. Ngay dưới nước, một nhóm nghệ nhân phải hiểu ý, ăn ý nhau để biểu diễn một tiết trò. Đồng thời phải phối hợp với lời ca, tiếng hát, điệu nhạc ở trên bờ.

Cả dưới nước và trên cạn đều phải khớp với nhau: động tác tay, nhịp quay của con rối, lời thoại, tiếng hát, nhạc cụ, hiệu ứng ảo thuật. Tất cả cùng tạo ra một tiết mục, một kịch bản, một thông điệp gửi tới khán giả.

Rối nước không giống một số môn nghệ thuật chỉ cần một cá nhân thật giỏi. Nó cần sự ăn ý của số đông: người điều khiển rối, người hát, người thoại, người chơi nhạc, người làm ảo thuật, người phụ họa. Cả phường phải cùng sống trong một nhịp.

Một màn biểu diễn rối nước của các nghệ nhân Đào Thục. Ảnh: Hanoicreativecity.com

Trong bối cảnh Summer Camp Re:Craft 2026 đưa sinh viên trẻ đến với các làng nghề và di sản, ông kỳ vọng gì khi các bạn tiếp cận rối nước Đào Thục?

Tôi mong các bạn trẻ hiểu rằng rối nước không chỉ là một hình ảnh đẹp để đưa vào thiết kế hay truyền thông. Đó là một nghệ thuật có lịch sử, có không gian, có cộng đồng, có kỹ thuật và có những bí mật nằm dưới mặt nước.

Nếu các bạn muốn sáng tạo với rối nước, trước hết phải hiểu nó sinh ra từ đâu: từ người nông dân, từ ao làng, từ thủy đình, từ lễ hội, từ lời ca tiếng hát và sự phối hợp của cả phường. Khi hiểu được điều đó, những ý tưởng mới mới có thể tôn trọng cái gốc, đồng thời giúp rối nước đến gần hơn với công chúng hôm nay.

Theo ông, điều quan trọng nhất để rối nước Đào Thục tiếp tục có sức sống là gì?

Quan trọng nhất vẫn là người trong làng yêu nghề. Bí quyết có thể mở ra, cách truyền nghề có thể thay đổi, sân khấu có thể linh hoạt hơn, nhưng nếu người trong làng không yêu nghề thì rất khó giữ.

Rối nước Đào Thục còn sức sống khi có người muốn học, có người muốn biểu diễn, có người muốn hiểu và có cộng đồng cùng gìn giữ. Nghề này không thể sống bằng một người. Nó phải sống bằng cả phường, cả làng và bằng sự trân trọng của khán giả.

Xin cám ơn ông.

Hanoicreativecity.com thực hiện