Đóng

Khi màu nước không còn chỉ là ký họa

Tại một workshop ở 47 Hàng Dầu, những bức tranh màu nước được treo kín một phần tường. Ngay phía dưới, giấy, cọ, bảng màu và những cốc nước lại mở ra một không gian khác: người ngồi vẽ, người đứng xem, người cúi xuống trao đổi một chi tiết vừa hiện lên trên mặt giấy.

Ở đây, hội họa không kết thúc khi tác phẩm được đóng khung.

Một bức tranh hoàn chỉnh có thể nằm trên tường, nhưng ngay trước nó là một bức khác đang bắt đầu.

Khung cảnh ấy phần nào cho thấy cách Câu lạc bộ Họa sĩ Màu nước Hà Nội – HWA – đang tìm một vị trí mới cho màu nước trong đời sống nghệ thuật thành phố. Không chỉ tổ chức triển lãm, cộng đồng này còn đưa màu nước vào workshop, những buổi vẽ chung, hoạt động xã hội, hợp tác với các thiết chế văn hóa và những thử nghiệm đưa tác phẩm đi xa hơn thị trường tranh gốc.

Đằng sau những hoạt động đó là một câu chuyện lớn hơn về một chất liệu từng có thời gian dài được nhìn chủ yếu như phương tiện ký họa.

KTS, họa sĩ Bùi Thanh Việt Hùng – Chủ nhiệm CLB Hoạ sĩ màu nước Hà Nội. Ảnh: NVCC

Từ những bản ký họa đến một cộng đồng

KTS, họa sĩ Bùi Thanh Việt Hùng, Chủ nhiệm HWA, cho rằng cách nhìn về màu nước tại Việt Nam chịu ảnh hưởng khá lâu từ lịch sử đào tạo mỹ thuật.

Trong nhiều giai đoạn, màu nước thuận tiện cho việc đi thực tế: nhẹ, dễ mang theo, pha nhanh và phù hợp để ghi lại cảnh vật, bố cục hay ý tưởng trước khi họa sĩ trở về xưởng phát triển tác phẩm bằng sơn dầu, sơn mài hoặc những chất liệu khác. Theo ông, quán tính đó khiến màu nước trên giấy trong đời sống mỹ thuật Việt Nam thường được gắn với ký họa nhiều hơn với một chất liệu sáng tác độc lập. 

Ở nhiều quốc gia khác, màu nước đã có một lịch sử khác. Với những người thực hành màu nước tại Hà Nội, việc tiếp xúc với các triển lãm quốc tế từ cuối thập niên 2010 cũng mở ra một cách nhìn mới: màu nước hoàn toàn có thể là ngôn ngữ chính của một tác phẩm, thay vì chỉ là bước chuẩn bị cho một tác phẩm khác.

Bùi Thanh Việt Hùng là kiến trúc sư và giảng viên đại học. Ông trở lại thực hành màu nước sau một thời gian dài dành phần lớn thời gian cho kiến trúc và giảng dạy. Từ những cuộc triển lãm quốc tế, ông gặp những người Việt Nam khác cùng thực hành chất liệu này. Họ gửi tranh đi nước ngoài, gặp nhau khi nhận và trả tác phẩm, rồi dần hình thành một nhóm có cùng mối quan tâm.

Ý tưởng về một cộng đồng riêng tại Hà Nội đã xuất hiện trước đại dịch COVID-19. Nhưng chính quãng thời gian giãn cách, khi phần lớn tương tác chỉ còn diễn ra qua mạng, lại khiến nhu cầu gặp gỡ trực tiếp sau đại dịch trở nên rõ rệt hơn.

Một cuộc triển lãm tại 29 Hàng Bài trở thành điểm khởi đầu. Tháng 10/2022, Câu lạc bộ Họa sĩ Màu nước Hà Nội chính thức hình thành. 

Ban đầu chỉ khoảng 10 người. Đến thời điểm thực hiện cuộc phỏng vấn này, ông Hùng cho biết câu lạc bộ có 82 thành viên. Thành viên không nhất thiết phải là họa sĩ được đào tạo chính quy; trong số đó có họa sĩ chuyên nghiệp, kiến trúc sư, giảng viên, người trẻ đang đi theo con đường nghệ thuật và cả những người vẽ để tìm một khoảng cân bằng trong đời sống. 

Chính sự khác biệt ấy dần làm thay đổi chức năng của câu lạc bộ.

Người đã có kinh nghiệm có thể chia sẻ với người mới. Những thành viên trẻ có thêm cơ hội tham gia triển lãm, hội chợ hoặc workshop. Người cần địa điểm, họa cụ hay kết nối với một đơn vị văn hóa có thể nhận được hỗ trợ từ cộng đồng.

Từ năm 2024 đến thời điểm phỏng vấn, ông Hùng ước tính các thành viên HWA đã tham gia khoảng 10 triển lãm với nhiều quy mô khác nhau. Ngoài triển lãm chung, những nhóm nhỏ theo độ tuổi, mối quan tâm hoặc quan hệ nghề nghiệp cũng được khuyến khích tự hình thành chương trình riêng. 

Như vậy, từ một nhóm cùng thích vẽ, HWA dần đảm nhiệm thêm vai trò của một mạng lưới hỗ trợ người thực hành nghệ thuật.

Triển lãm “Giai điệu thống nhất” tại 47 Hàng Dầu. Ảnh: NVCC

Khi triển lãm không chỉ còn là nơi xem tranh

Sự thay đổi đó thể hiện khá rõ trong cách câu lạc bộ tổ chức hoạt động.

Tại triển lãm “Nối”, hơn 200 tác phẩm màu nước của 42 họa sĩ và khách mời được giới thiệu. Bên cạnh phần trưng bày là các hoạt động trình diễn, tọa đàm, thực hành nghệ thuật và trải nghiệm dành cho công chúng. Số lượng hơn 200 tác phẩm cũng được nguồn của ngành văn hóa Hà Nội ghi nhận. 

Điều đáng chú ý không chỉ nằm ở quy mô.

Nếu một triển lãm theo mô hình truyền thống thường phân khá rõ người sáng tác và người xem, thì những hoạt động như workshop lại làm khoảng cách ấy ngắn lại. Người chưa từng học hội họa có thể thử một thao tác; khách tham quan có thể đứng cạnh người đang vẽ; một tác phẩm được hình thành ngay trong không gian mà những tác phẩm hoàn chỉnh đang được trưng bày.

HWA cũng không giới hạn các hoạt động trải nghiệm ở màu nước. Những người trẻ trong câu lạc bộ có thể thực hành in, lụa, khắc hoặc những chất liệu khác. Trong các chương trình cộng đồng, loại hình được lựa chọn theo mức độ phù hợp với địa điểm và khả năng tham gia của công chúng, thay vì buộc mọi hoạt động phải sử dụng một chất liệu duy nhất. 

Đó là điểm đáng chú ý của quá trình màu nước bước ra khỏi phạm vi một tác phẩm cá nhân.

Một bức tranh vẫn là trung tâm của hoạt động nghệ thuật. Nhưng quanh nó bắt đầu xuất hiện người học, người xem, người tổ chức, nhà tài trợ địa điểm, các nhóm thực hành khác và những thiết chế văn hóa.

Mỗi triển lãm vì vậy đồng thời có thể trở thành một điểm gặp.

Một cộng đồng không phụ thuộc vào một căn phòng

HWA từng sử dụng một địa điểm tại 22 Thành Công, trong khu vực của một xí nghiệp dệt cũ được chuyển đổi sang nhiều chức năng mới. Không gian này có tranh trưng bày, lớp vẽ và có thể được câu lạc bộ sử dụng cho các hoạt động khi cần. 

Nhưng hoạt động của HWA không được tổ chức quanh duy nhất địa chỉ đó.

Triển lãm có thể diễn ra tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, một không gian của ngành văn hóa, trường đại học hay một địa điểm khác trong thành phố. Thành viên tập hợp theo từng dự án rồi trở lại công việc và đời sống riêng sau khi chương trình kết thúc.

Ông Hùng gọi cấu trúc này là “một không gian ảo nhiều hơn”

Điều quan trọng vì thế không phải câu lạc bộ sở hữu bao nhiêu mét vuông, mà là nó có thể tập hợp bao nhiêu năng lực khi một hoạt động xuất hiện.

Một đơn vị có địa điểm nhưng cần nội dung. Một nhóm nghệ sĩ có tác phẩm nhưng chưa có nơi trưng bày. Một người trẻ muốn tổ chức workshop nhưng thiếu họa cụ. Một nghệ sĩ từ nơi khác đến Hà Nội muốn tìm người cùng đi vẽ.

Giá trị của cộng đồng xuất hiện ở những khoảng nối ấy.

Ông Hùng kể trường hợp một kiến trúc sư Việt Nam sinh sống tại Mỹ trở về Hà Nội và muốn tìm người cùng vẽ. Từ một lời đề nghị ban đầu, các buổi đi vẽ cuối tuần dần được tổ chức; có ngày một nhóm khoảng 20 người cùng gặp nhau tại xưởng. Với người đã sống xa Hà Nội lâu năm, những cuộc gặp ấy giúp thành phố từ một nơi quen mà lạ trở lại thành nơi có những người đồng điệu để tìm đến. 

Đó cũng là cách một cộng đồng sáng tạo tạo ra giá trị mà khó đo bằng diện tích hay số lượng tác phẩm.

Tranh màu nước được CLB trao tặng Sở Văn hoá, thể thao và du lịch Hà Nội. Ảnh: NVCC

Từ bán tranh đến chuỗi giá trị rộng hơn

Nhưng khi Hà Nội đặt ngày càng nhiều câu hỏi về kinh tế sáng tạo, một cộng đồng nghệ thuật cũng phải đối diện với vấn đề thiết thực: người sáng tạo sống bằng gì?

Bùi Thanh Việt Hùng không cho rằng câu trả lời chỉ nằm ở việc bán tranh.

Trong HWA, theo ước tính của ông, khoảng 10% thành viên đã có khả năng bán tranh khá đều, có khách hàng hoặc người sưu tập quen thuộc. Một nhóm khác có thể bán tác phẩm nhưng vẫn cần một nghề chính để bảo đảm đời sống. Chính ông thuộc nhóm này: giảng dạy đại học vẫn là nghề nghiệp chính, trong khi bán tranh và những công việc nghệ thuật tạo thêm một nguồn thu nhập. 

Đáng chú ý hơn là những con đường nằm ngoài việc bán tác phẩm gốc.

Một hình ảnh có thể đi vào sản phẩm quà tặng. Nghệ sĩ có thể tham gia một dự án do thiết chế văn hóa đặt hàng. Một workshop có thể trở thành dịch vụ trải nghiệm. Một tác phẩm có thể được chuyển hóa thành sản phẩm phái sinh với mức giá tiếp cận được nhiều người hơn.

Ông Hùng dẫn trường hợp những nghiên cứu sản phẩm liên quan đến Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Thay vì chỉ dừng ở tranh treo tường, hình ảnh và ý tưởng nghệ thuật có thể được đưa vào quà tặng dành cho khách tham quan. Khi đó, tác phẩm gốc, sản phẩm phái sinh, workshop và dự án hợp tác cùng tồn tại trong một chuỗi rộng hơn. 

Đây là một chuyển dịch đáng chú ý.

Một nghệ sĩ không nhất thiết phải chờ người mua bước vào phòng tranh. Giá trị sáng tạo có thể được đưa tới thị trường bằng nhiều hình thức khác nhau, miễn là người làm nghệ thuật vẫn giữ được chất lượng và quyền đối với sáng tạo của mình.

Đối với một cộng đồng như HWA, khả năng đó càng lớn khi nhiều cá nhân có phong cách, nghề nghiệp và mạng lưới khác nhau được đặt cạnh nhau.

Hai con số 82 hoàn toàn khác nhau

HWA hiện có 82 thành viên theo số liệu ông Hùng cung cấp trong cuộc phỏng vấn.

Câu lạc bộ đồng thời là một thành viên của Mạng lưới 82 Không gian Văn hóa Sáng tạo Hà Nội.

Hai con số 82 này hoàn toàn độc lập và chỉ tình cờ trùng nhau: một bên là số thành viên của riêng HWA tại thời điểm phỏng vấn; bên kia là số không gian được xác định trong mạng lưới sáng tạo của thành phố.

Việc HWA bước vào mạng lưới lớn hơn lại mở ra một câu hỏi đáng quan tâm hơn bản thân các con số: một cộng đồng những người thực hành màu nước có thể đóng góp gì cho những chủ thể sáng tạo khác?

Ông Hùng cho rằng thế mạnh lớn nhất của câu lạc bộ nằm ở con người. “82 con người là 82 cá tính.” 

Trong số đó có người mạnh về phong cảnh, người làm kiến trúc, người giảng dạy, người làm studio, người có khả năng tổ chức workshop, người kết nối với thị trường hay những cộng đồng khác.

Điều HWA cần không hẳn là thêm một địa điểm.

Điều cần hơn là những cơ hội để nguồn lực ấy gặp đúng nhu cầu: một đơn vị làm giấy có thể cần một họa sĩ; một thiết chế di sản có thể muốn phát triển quà tặng; một trường học có thể cần workshop; một địa điểm văn hóa có thể cần triển lãm; một nhà thiết kế có thể tìm kiếm hình ảnh để phát triển sản phẩm mới.

Mạng lưới chỉ có ý nghĩa khi những kết nối như vậy thực sự hình thành.

Workshop thực hành màu nước được tổ chức tại 47 Hàng Dầu. Ảnh: NVCC

Đi tìm một vị trí khác cho màu nước

Sau cùng, điều Bùi Thanh Việt Hùng mong muốn không phải là HWA phải trở thành một câu lạc bộ thật lớn.

Ông quan tâm nhiều hơn tới vị trí của chính chất liệu màu nước.

Theo ông, một trong những rào cản của màu nước tại Việt Nam vẫn là quán tính coi nó như phương tiện ghi chép, ký họa hoặc thực hành không chuyên. Trong khi đó, thực tế sáng tác và triển lãm cho thấy màu nước có thể tạo ra những tác phẩm hoàn chỉnh, có thị trường, có hệ thống người thực hành và có đời sống quốc tế riêng. 

Ông hy vọng trong 5-10 năm tới, màu nước có thể được nhìn nhận nghiêm túc hơn trong đào tạo mỹ thuật và đời sống nghệ thuật chuyên nghiệp. 

Nhưng sự thay đổi ấy có lẽ không cần chờ tới một ngày màu nước trở thành môn học chính thức.

Nó đang diễn ra từ những việc nhỏ hơn.

Một người trẻ được đưa vào triển lãm đầu tiên. Một tác phẩm tìm được người mua. Một bức tranh trở thành ý tưởng cho sản phẩm mới. Một phòng trưng bày biến thành nơi người xem ngồi xuống cầm cọ. Một nhóm nghệ sĩ có thể đi từ trường đại học tới di tích, từ studio tới không gian công cộng mà không cần sở hữu tất cả những địa điểm ấy.

Ở 47 Hàng Dầu, những bức tranh trên tường vẫn là đích đến của một quá trình sáng tác.

Nhưng những bàn vẽ phía dưới cho thấy một quá trình khác vừa bắt đầu.

Màu nước, theo cách đó, đang đi xa hơn một bản ký họa.