
Nguyễn Trương Quý: Từ tờ nhạc nhìn ra một thời Hà Nội hát
Khoảng 2.000 tờ nhạc được in trong hai thập niên không chỉ ghi lại một giai đoạn sáng tác sôi động. Qua những dấu vết về nhà in, đại lý phát hành, đài phát thanh, sân khấu, ca sĩ, người mua và những lần tái bản, nhà nghiên cứu – nhà văn Nguyễn Trương Quý nhìn thấy phía sau tân nhạc một “vòng tròn sáng tạo, xuất bản, trình diễn và tiếp nhận”. Từ câu chuyện gần một thế kỷ trước, anh cho rằng bài học đối với Hà Nội hôm nay không nằm ở việc phục dựng quá khứ, mà ở khả năng đào sâu văn hóa, nuôi dưỡng sáng tạo và ý thức trách nhiệm của người nghệ sĩ.

Nhà văn Nguyễn Trương Quý tham gia buổi tọa đàm tại Bảo tàng Hà Nội. Ảnh: hanoicreativecity.com
Tối 12/9, tại Bảo tàng Hà Nội, 102 tư liệu, hiện vật được lựa chọn từ bộ sưu tập khoảng 2.000 tờ nhạc đã đưa công chúng trở lại hai thập niên đầu của tân nhạc Hà Nội. Trưng bày “Hướng về thành phố xa xưa: Hai thập niên tân nhạc Hà Nội (1934–1954)” nằm trong Festival Thăng Long – Hà Nội 2026 và kéo dài đến hết ngày 30/9.
Nhưng nếu chỉ nhìn những tờ nhạc ấy như kỷ vật của một thời, có thể chúng ta mới đọc được một nửa câu chuyện.
Trong cuộc trao đổi với HanoiCreativeCity.com, nhà nghiên cứu – nhà văn Nguyễn Trương Quý nhìn chúng như những dấu vết vật chất của một đời sống âm nhạc từng vận hành: tác phẩm được sáng tác, in, bán, biểu diễn, phát trên đài, mua về, chơi lại, tái bản và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Từ đó, một câu hỏi hiện ra: phải chăng trước khi Việt Nam có khái niệm “công nghiệp văn hóa”, Hà Nội đã từng có những yếu tố ban đầu của nó?

Nhà văn Nguyễn Trương Quý. Ảnh: hanoicreativecity.com
– Trong khoảng 2.000 bản nhạc được in trong hai thập niên, điều gì khiến anh cho rằng đây không chỉ là hoạt động nghệ thuật riêng lẻ?
– Tôi thấy đây không chỉ là một hoạt động nghệ thuật, mà đã hình thành một đời sống sản xuất khá phổ biến. Có lẽ có thể coi đó là những dấu hiệu, những bước khởi đầu của một nền công nghiệp văn hóa, dù ở giai đoạn ấy mọi thứ diễn ra khá hồn nhiên.
Điều này liên quan đến hệ thống xuất bản đã có trước đó. Xuất bản văn học, sách báo lúc ấy đã tương đối ổn định. Khi những sản phẩm âm nhạc được in thành tờ nhạc, chúng cũng chịu ảnh hưởng từ hình thức xuất bản âm nhạc phương Tây.
Nhưng những tờ nhạc ở Việt Nam lại mang một tinh thần rất Việt Nam. Bìa nhạc có chân dung người Việt, hình ảnh ca sĩ, nhạc sĩ, thông tin về con đường nghệ thuật của họ và những hình ảnh gợi lên bóng dáng Việt Nam xưa.
Sau nhiều thập niên, những thứ ấy trở thành kỷ vật mang dấu ấn thời gian và lưu giữ ký ức của rất nhiều người.
– Nếu theo dấu một tờ nhạc từ người sáng tác đến người nghe, chúng ta có thể nhìn thấy những mắt xích nào của đời sống âm nhạc lúc ấy?
– Trước năm 1945, tờ nhạc còn tương đối hạn chế, kích thước thường nhỏ và khả năng tiếp cận đại chúng chưa nhiều, chủ yếu tập trung ở đô thị.
Sau Cách mạng Tháng Tám, việc phổ biến tờ nhạc được mở rộng hơn trong bối cảnh đất nước độc lập rồi bước vào các cuộc kháng chiến.
Thị trường và hoạt động xuất bản tạo ra một con đường rất quan trọng. Nó kích thích người nghệ sĩ sáng tác, ca sĩ trình diễn và từng bước hình thành một hệ sinh thái âm nhạc.
Những tờ nhạc cũng rất quan trọng ở khía cạnh tư liệu. Chúng giúp xác thực bài ca, lời ca, từng nốt nhạc và cả những thay đổi giữa các phiên bản. Khi một nhạc sĩ di chuyển từ nơi này sang nơi khác, những ấn phẩm còn lại trở thành bằng chứng về đóng góp của họ trong một giai đoạn văn hóa.
– Anh có thể hình dung cụ thể hơn quy mô của hoạt động xuất bản âm nhạc ấy?
– Lúc đó ở Việt Nam có khoảng hai chục nhà in chuyên về in nhạc. Ngoài Bắc có những cơ sở xuất bản ở phố Huế; trong Sài Gòn có các nhà xuất bản như Á Châu, An Phú; ở Huế đặc biệt có Nhà xuất bản Tinh Hoa rất nổi tiếng.
Các tờ nhạc được phát hành khắp Bắc, Trung, Nam. Nhiều nơi có đại lý bán và công chúng đón nhận khá tốt. Có người còn sưu tập những ấn bản đặc biệt, những bản có chữ ký của tác giả.
Có những bài hát được tái bản nhiều lần và lan truyền qua nhiều thế hệ. Tờ nhạc còn thịnh hành cho tới khoảng những năm 1980, rồi mới dần vắng bóng khi xuất hiện những dạng ấn phẩm dày dặn, dễ lưu giữ hơn và thẩm mỹ của thời đại thay đổi.

Trưng bày tại Bảo tàng Hà Nội “Hai thập niên tân nhạc Hà Nội (1934–1954)”. Ảnh: hanoicreativecity.com
Một bài hát không chỉ sống trên tờ giấy
– Nhưng nếu chỉ có xuất bản thì vẫn chưa đủ để tạo thành một đời sống âm nhạc?
– Đúng. Tờ nhạc liên quan đến cả hệ thống phát thanh.
Trên nhiều tờ nhạc thường ghi bài hát đã được ca sĩ nào trình bày, được phát trên Đài Phát thanh Hà Nội, Huế hay Sài Gòn. Trên các sân khấu ở Thủ đô cũng vậy, người ta biết một bài hát đã được trình diễn ở đâu.
Từ đời sống biểu diễn đến ấn phẩm âm nhạc tạo thành một vòng chuyển động rất hấp dẫn.
Trên tờ nhạc thường còn ghi lần xuất bản, lần tái bản. Mỗi lần có thể in hàng nghìn bản. Bìa sau lại có danh sách những bài hát đã được xuất bản. Chẳng hạn Tinh Hoa từng phát hành hàng trăm bài trong khoảng tám năm.
Từ những chi tiết đó có thể hình dung phần nào sự dồi dào của đời sống sáng tác và xuất bản âm nhạc lúc bấy giờ. Các nhà xuất bản cũng tạo ra những mối quan hệ tương đối chặt chẽ với từng nhạc sĩ, tác giả.
– Nhìn từ Hà Nội hôm nay, có một nghịch lý khá thú vị: điều kiện kinh tế và phương tiện khi đó hạn chế hơn rất nhiều, nhưng giai đoạn ấy lại tạo ra một khối lượng tác phẩm mà nhiều bài còn sống tới hôm nay. Vì sao?
– Điều quan trọng là không gian âm nhạc lúc đó khá cởi mở và nhu cầu của cư dân đô thị tương đối dồi dào. Điều đó tạo ra nhu cầu lan truyền và tiêu thụ các sản phẩm âm nhạc.
Một yếu tố khác là thẩm mỹ. Tân nhạc đóng vai trò tiên phong trong việc truyền bá những tư tưởng mới, lối sống mới, từ vẻ đẹp thị thành, hình ảnh những cô gái thời ấy cho tới việc ghi lại phong tục, tập quán.
Âm nhạc cũng tham gia trực tiếp vào đời sống xã hội. Có những bài liên quan đến trầu cau, có những tác phẩm phục vụ phong trào Bình dân học vụ, có các bài hát cổ động và chương trình yêu nước.
Những chức năng ấy hòa quyện với nhau.
Một tác phẩm khi đi vào đời sống thì thường có sức sống lâu dài.
Một “hệ sinh thái” trước khi có khái niệm hệ sinh thái
– Nếu dùng ngôn ngữ của hôm nay, liệu có thể gọi đời sống tân nhạc ấy là một “hệ sinh thái sáng tạo”, thậm chí một dạng sơ khai của công nghiệp văn hóa?
– Tôi nghĩ chúng ta có thể dùng những khái niệm như vậy để nhìn lại hiện tượng này.
Trên thực tế, họ đã có những khuôn khổ để tạo ra các sản phẩm văn hóa vật chất.
Tờ nhạc tuy đơn giản nhưng hội tụ rất nhiều yếu tố: thẩm mỹ, mỹ thuật, công nghệ in ấn và sự phong phú của sáng tạo âm nhạc. Từ những bài hát phổ thơ đến trường ca đều có thể được xuất bản. Hình ảnh người hát, người đàn xuất hiện trên bìa; tờ nhạc còn ghi ai hát, biểu diễn ở đâu.
Nhìn tổng thể, nó hình thành một hệ sinh thái và hệ sinh thái ấy đủ sức duy trì một “vòng tròn sáng tạo, xuất bản, trình diễn và tiếp nhận”.
Bên cạnh thị trường còn có tác động của đời sống chính trị – xã hội. Ở vùng kháng chiến, những tờ nhạc dù được in rất sơ sài vẫn có khả năng truyền bá rộng.
Có những bài hát gắn với Bình dân học vụ, chẳng hạn Cô Tú. Sự lan truyền của âm nhạc có lúc vượt qua cả ranh giới địa lý hay chính trị.
Ở đây có một điểm đáng suy nghĩ.
Ngày nay, khi nói tới công nghiệp văn hóa, chúng ta thường nghĩ ngay đến quy mô thị trường, doanh thu, công nghệ hay khả năng xuất khẩu sản phẩm. Những tờ nhạc cũ cho thấy một tầng nền tảng hơn: trước khi có một thị trường văn hóa, phải có một vòng tuần hoàn để sáng tạo tìm được đường đến công chúng.
Người viết cần người xuất bản. Người xuất bản cần người mua. Tác phẩm cần người biểu diễn. Người nghe cần những kênh để biết tới cái mới. Và khi tất cả cùng vận hành, một sản phẩm văn hóa mới có khả năng bước ra khỏi đời sống cá nhân của người sáng tác.

Những tờ nhạc được trưng bày tại Bảo tàng Hà Nội. Ảnh: hanoicreativecity.com
Không thể phục dựng quá khứ nguyên xi
– Khi những tờ nhạc ấy được đưa vào Bảo tàng Hà Nội, điều quan trọng hơn là bảo tồn những tờ giấy hay bảo tồn cả môi trường văn hóa đã sinh ra chúng?
– Tôi nghĩ cách tiếp nhận phải được đặt trong góc nhìn của từng thời kỳ.
Bây giờ nếu muốn phục dựng mọi thứ nguyên xi như cũ thì rất khó và cũng không thể làm được.
Chúng ta có thể bảo tàng hóa, lưu giữ nguyên dạng những sản phẩm, những bản gốc. Nhưng bước thứ hai phải là phát triển chúng. Những bài hát có thể được hòa âm, phối khí mới hoặc trình diễn theo những cách mới.
Điều quan trọng là phải tìm được bản chất của âm nhạc, chứ không chỉ dừng ở hình thức hay bề nổi. Phải đi từ tiết điệu, cảm hứng về không gian và những đặc trưng của thành phố.
Hà Nội đã có một giai đoạn làm được điều đó tương đối nhuần nhị, dù phương tiện và hệ thống phương tiện khi ấy còn khá hạn chế. Nhưng nỗ lực của người Việt lúc đó rất lớn.
Đóng góp quan trọng của các nhạc sĩ chính là khả năng lan tỏa những sắc thái văn hóa Việt Nam thông qua âm nhạc.
Điều Nguyễn Trương Quý nhấn mạnh cũng tạo ra một ranh giới quan trọng trong cách khai thác di sản.
Làm mới một bản nhạc cũ không chỉ là thay cách phối khí. Đưa di sản vào đời sống đương đại cũng không đơn giản là đặt một lớp công nghệ mới lên một sản phẩm cũ.
Nếu không nhận ra phần cốt lõi – tiết điệu, không gian, cảm hứng, đời sống và sắc thái văn hóa đã sinh ra tác phẩm – việc “làm mới” rất dễ chỉ còn là thay đổi hình thức.
“Đào sâu, suy tư và tìm hiểu đến cùng”
– Nếu chỉ được chọn một bài học từ hai thập niên tân nhạc ấy cho Hà Nội trong quá trình phát triển công nghiệp văn hóa hôm nay, anh sẽ chọn điều gì?
Nguyễn Trương Quý dừng lại ở một điều tưởng như không liên quan trực tiếp đến thị trường, công nghệ hay hạ tầng.
“Tôi nghĩ đó là sự đào sâu, suy tư và tìm hiểu đến cùng trong sáng tạo.”
Theo anh, những sáng tạo ban đầu có thể rất hồn nhiên, mộc mạc. Một bài hát đôi khi chỉ bắt đầu từ chuyện giao duyên trai gái. Nhưng càng về sau, người nghệ sĩ càng thể hiện trách nhiệm trong tác phẩm.
“Tôi nghĩ trách nhiệm của nghệ sĩ trong những bài hát ấy rất quan trọng. Nó tạo ra một con đường để chuyển tải tình tự dân tộc và góp phần nuôi dưỡng tâm hồn người Việt Nam qua nhiều thập kỷ.”
Câu trả lời ấy đáng chú ý bởi nó đưa câu chuyện công nghiệp văn hóa trở về điểm khởi đầu: chất lượng của sáng tạo.
Một hệ thống xuất bản có thể giúp tác phẩm lưu hành. Sân khấu và phát thanh có thể đưa tác phẩm tới nhiều người. Thị trường có thể tạo điều kiện để người nghệ sĩ tiếp tục sáng tác. Nhưng không một hệ thống phân phối nào có thể tự tạo ra chiều sâu văn hóa cho một tác phẩm.
Hai thập niên tân nhạc mà 102 tư liệu tại Bảo tàng Hà Nội đang gợi lại vì vậy không chỉ kể câu chuyện về một thời kỳ đã qua. Chính chương trình trưng bày cũng đặt âm nhạc trong quan hệ với ký ức đô thị và sự phát triển công nghiệp văn hóa sáng tạo của Hà Nội hôm nay.
Gần một thế kỷ trước, khi chưa có mạng xã hội, nền tảng nghe nhạc trực tuyến hay những khái niệm như “hệ sinh thái sáng tạo”, những tờ nhạc đã đi qua nhà in, đại lý, sân khấu và đài phát thanh để đến với người nghe.
Một vòng tuần hoàn văn hóa đã hình thành.
Nhưng điều khiến một phần sản phẩm của vòng tuần hoàn ấy còn được nhớ tới sau nhiều thập niên không chỉ là việc chúng đã được in nhiều hay truyền đi rộng.
Theo cách Nguyễn Trương Quý nhìn lại, phía sau nó còn là một thế hệ nghệ sĩ biết “đào sâu, suy tư và tìm hiểu đến cùng”, rồi đặt trách nhiệm của mình vào tác phẩm.
Với Hà Nội đang phát triển công nghiệp văn hóa và xây dựng Thành phố Sáng tạo, đó có lẽ là một đối chiếu đáng suy nghĩ: hệ sinh thái giúp sáng tạo được lưu thông; nhưng chiều sâu của sáng tạo mới quyết định thứ gì có khả năng ở lại.








