
Thu Trần: “Nghệ thuật phải được tự sống, tự tương tác và tự lan truyền”
Từ những di vật chiến tranh từng được lưu giữ trong Bảo tàng Hà Nội đến 22 mặt tranh của “Bông bầu, bông bí”, họa sĩ Thu Trần lựa chọn một cách tiếp cận không nhằm minh họa quá khứ, mà tạo ra một không gian để ký ức, hội họa, âm nhạc và công chúng cùng đối thoại. Bên lề chương trình “Mạch nguồn di sản”, chị nói về cội nguồn của tác phẩm, việc dùng ngôn ngữ nghệ thuật đương đại để kể câu chuyện Việt Nam và khả năng để bảo tàng trở thành nơi những giá trị mới tiếp tục được tạo ra.
Tối 20/9, tại không gian trưng bày “Chiến tranh và Hòa bình”, Bảo tàng Hà Nội tổ chức chương trình “Mạch nguồn di sản” trong khuôn khổ Festival Thăng Long – Hà Nội lần thứ II năm 2026. Đây là hoạt động khép lại chuỗi chương trình của Bảo tàng tại Festival, kết hợp triển lãm “Bông bầu, bông bí”, tọa đàm về ký ức chiến tranh, gia đình và quê hương cùng chương trình âm nhạc “Một cõi quê hương”, với sự tham gia của nghệ sĩ saxophone Trần Mạnh Tuấn, nghệ sĩ guitar Lê Hùng Phong và các ca sĩ Tây Phong, Quỳnh Phạm.

Không gian trưng bày “Chiến tranh và Hoà bình” kết hợp triển lãm “Bông bầu, bông bí” của hoạ sĩ Thu Trần trong Chương trình “Mạch nguồn di sản”. Ảnh: BTC
“Bông bầu, bông bí” tiếp nối không gian sắp đặt “Chiến tranh và Hòa bình” mà Thu Trần và Tây Phong thực hiện tại Bảo tàng Hà Nội từ tháng 3/2026. Ở giai đoạn đầu, các nghệ sĩ làm việc với những mảnh xác máy bay, vỏ bom và các vật liệu của bảo tàng, đặt chúng trong tương quan với giấy dó, giấy dứa, sơn mài và những cấu trúc tạo hình đương đại. Bảo tàng xác định đây không phải cách tái hiện chiến tranh theo lối minh họa, mà là một cuộc đối thoại giữa ký ức chiến tranh, hiện tại và khát vọng hòa bình.
Từ nền tảng đó, giai đoạn hai mở rộng sang hội họa và âm nhạc, đưa một câu chuyện rất gần gũi của đời sống Việt Nam – “Bông bầu, bông bí” – vào giữa những di vật của chiến tranh.
HanoiCreativeCity.com đã trao đổi với họa sĩ Thu Trần bên lề chương trình.
– Tên “Bông bầu, bông bí” nghe rất đời thường, gần như một câu nói trong gia đình. Vì sao chị chọn hình ảnh ấy để tiếp tục câu chuyện của “Chiến tranh và Hòa bình”?
– Đây là triển lãm “Chiến tranh và Hòa bình” ở giai đoạn hai. “Bông bầu, bông bí” chính là tên bộ tranh mà tôi đặt, xuất phát từ hai lý do.
Thứ nhất, khi làm tác phẩm sắp đặt này cùng nghệ sĩ Tây Phong, chúng tôi mới chỉ làm được giai đoạn một là toàn bộ các xác máy bay, di vật máy bay từ năm 1951 đến năm 1972. Khi sang đến giai đoạn hai, chúng tôi quyết định đưa thêm tranh vào để câu chuyện được hoàn thiện hơn: thế nào là chiến tranh và thế nào là hòa bình.
Chúng ta để lại toàn bộ những di vật chiến tranh ở đây, nhưng mang lại cảm giác không còn sự hủy diệt hay chết chóc nữa, mà hoàn toàn mang đến một thông điệp mới. Những di vật chiến tranh ấy được nâng lên thành tác phẩm nghệ thuật.
Thứ hai, tên gọi “Bông bầu, bông bí” xuất phát từ anh Trần Mạnh Tuấn. Khi tôi ngỏ ý muốn kết nối với anh trong câu chuyện này, anh bảo sẽ xin phép gia đình nhạc sĩ Trịnh Công Sơn hai bài hát: “Giọt nước mắt cho quê hương” và “Bà mẹ Ô Lý”.
Câu chuyện về người mẹ Ô Lý khiến tôi vô cùng xúc động. Một người mẹ đi bộ một quãng đường rất dài, cõng đứa con trên lưng và ôm một quả bí trước ngực giữa thời loạn lạc. Với tôi, sự kết nối ở đây chính là sự sống, là mầm sống.
Bông bầu, bông bí là những thứ rất đỗi thân thuộc, như tương cà mắm muối của người Việt Nam. Dù đi đâu, bạn cũng không quên tương cà mắm muối, không quên người mẹ của mình. Dây bầu, dây bí quấn quýt, yêu thương nhau cũng chính là thông điệp mà tôi muốn truyền tải.
Đó là câu chuyện chúng tôi muốn cùng kể bằng hội họa, sắp đặt và âm nhạc.

Họa sĩ Thu Trần giới thiệu về tác phẩm trong triển lãm “Bông bầu, bông bí”. Ảnh: BTC
– Tại sao một câu chuyện rất riêng về người mẹ, quê hương và một quả bí lại có thể trở thành phần tiếp nối của một triển lãm về chiến tranh và hòa bình?
– Tôi đặt ra một giả thuyết: bây giờ màn hình phẳng phủ khắp nơi, chúng ta có thể nhìn thấy mọi thứ trên thế giới. Nhưng nếu trong trường hợp chúng ta phải rời khỏi quê hương mình, chúng ta sẽ làm gì?
Tôi không thể nào chịu đựng được điều đó, bởi vì tôi luôn nhớ những món tương cà mắm muối của cha mẹ, nhớ món mắm tôm, nhớ hạt nếp dẻo trên nương hay hạt cơm tẻ của bà con, nhớ làng Chuông nơi tôi sinh ra.
Tôi nghĩ hình tượng bà mẹ Ô Lý đại diện cho mọi thế hệ, mọi thời đại. Đứng trước bom đạn, bà vẫn đi. Đó là sự dũng cảm, sự kết nối và hy sinh.
Trong nghệ thuật trừu tượng của tôi, khi chạm vào di sản, tôi biết mình phải quay trở lại với cội nguồn, lịch sử cha ông để biết gốc gác mình ở đâu và mình cần làm gì. Tác phẩm “Bông bầu, bông bí” vì thế ra đời một cách nhẹ nhàng, dung dị nhưng đầy quyết liệt.
– Tranh của chị được kết nối với âm nhạc của nghệ sĩ Trần Mạnh Tuấn. Tại sao chị lựa chọn sự kết hợp này khi saxophone vốn không phải một nhạc cụ dân tộc?
– Ngôn ngữ hội họa của tôi cũng đâu phải là ngôn ngữ thuần túy quê hương; tôi mượn ngôn ngữ phương Tây để thể hiện tình yêu quê hương, kể câu chuyện tương cà mắm muối xứ mình.
Anh Trần Mạnh Tuấn cũng mượn cây kèn saxophone để kể câu chuyện quê hương anh. Gặp gỡ nhau chính là nhân duyên.
Nghệ thuật vốn dĩ không có biên giới. Phương tiện để triển khai nghệ thuật lại càng không có biên giới. Chúng ta có thể dùng sáo, que củi, cây tre, một viên đá, tấm bê tông nhẹ, video, kèn saxophone, đàn guitar hay bất kỳ chất liệu nào, miễn là truyền tải được câu chuyện đang hiện hữu tại đây.
– Chị kỳ vọng điều gì khi người xem vừa ngắm tranh, vừa nghe một ngôn ngữ nghệ thuật khác diễn giải cùng một chủ đề?
– Tôi không kỳ vọng gì cả.
Tôi chỉ muốn nghệ thuật được tự sống, tự tương tác, tự lan truyền và tự rung cảm với nhau.
Nghệ thuật không nhất thiết phải là những câu chuyện đao to búa lớn mà nó sẽ thấm dần vào lòng người. Mọi hình thức biểu đạt đều chỉ là phương tiện; chạm được đến trái tim của người làm nghệ thuật và người cảm nhận nó mới là điều quan trọng nhất.

Nghệ sĩ Tây Phong biểu diễn trong không gian sắp đặt “Chiến tranh và Hoà bình”. Ảnh: BTC
– Bảo tàng vốn được hiểu là nơi lưu giữ những gì thuộc về quá khứ. Nhưng trong dự án này, bảo tàng lại trở thành nơi nghệ sĩ tạo tác, diễn giải và đối thoại. Với chị, sự thay đổi ấy có ý nghĩa như thế nào?
– Đó là lý do tôi cống hiến hết mình.
Bảo tàng đã rất mạnh dạn đồng ý cho tôi sử dụng các di vật chiến tranh, di vật khảo cổ làm phương tiện sáng tạo để biến chúng thành tác phẩm nghệ thuật, chứ không đơn thuần là mang ra trưng bày. Khi đưa tâm hồn và tinh thần của người nghệ sĩ vào, hiện vật sẽ mang một diện mạo hoàn toàn khác.
Tôi hy vọng những hiện vật đang nằm trong kho, dưới tầng hầm, nếu có bàn tay của các nghệ sĩ tham gia thì nghệ thuật đương đại ở các bảo tàng sẽ khởi sắc hơn rất nhiều.
Tôi rất khâm phục Bảo tàng đã tôn trọng nghệ sĩ, tạo điều kiện để chúng tôi tự do sáng tạo. Ngay cả những mảnh sắt vụn cũng có thể biến thành đám mây; chỉ cần có ý tưởng và tinh thần, nghệ thuật sẽ cất cánh.
– Theo chị, đâu là ranh giới giữa việc sử dụng di sản như một nguồn cảm hứng và việc thực sự làm cho di sản tiếp tục sinh ra những giá trị mới?
– Di sản thì rất phong phú, mỗi nghệ sĩ sẽ nắm bắt một thời điểm và một góc nhỏ để khơi gợi cảm hứng.
Nếu không bám vào di sản, tôi thậm chí không biết mình là ai, không biết mình là người Việt Nam, bởi tôi vẽ bằng ngôn ngữ nghệ thuật trừu tượng vốn xuất phát từ phương Tây.
Ở đây giống như câu chuyện “bình cũ rượu mới”. Ngôn ngữ trừu tượng là chiếc bình, còn cảm xúc, sự gắn kết với di sản là chất liệu mới. Chúng tôi dùng di sản như một vật ký thác thiêng liêng để gửi gắm linh hồn, tinh thần của mình vào đó, đưa nó đến một bến đỗ đẹp đẽ, giàu cảm xúc.
Sự kết hợp giữa di sản và nghệ thuật đương đại đã tạo nên một câu chuyện hoàn toàn mới.
– Chị có 11 hiện vật nhưng vẽ trên hai mặt, tạo thành 22 mặt tranh. Vì sao chị chọn cách làm này?
– Nếu một bức tranh treo trên tường, bạn chỉ cần nhìn một mặt và phía sau không cần diễn giải gì. Nhưng ở đây, tác phẩm được treo trong không gian để người xem bước vào có thể quan sát đa chiều từ nhiều hướng.
Tôi đục lỗ trên các tác phẩm để ánh nhìn có thể xuyên thấu qua các bề mặt, tương tự như việc người ta nhìn xuyên qua các ống pháo sáng.
Chúng tôi đi tìm không gian để đối thoại và để không gian được “thở”. Tôi vẽ hai mặt, nhiều khi vẽ xong mặt này chuyển sang mặt kia đã quên mất nét vẽ phía trước, nhưng khi nhìn tổng thể thì hai mặt vẫn có mối lương duyên chặt chẽ với nhau.
Với 11 khối hiện vật vẽ 22 mặt tranh tạo thành 22 tác phẩm, kết hợp với không gian đa chiều, nghệ thuật tương tác với nhau rõ nét hơn.
– Có khá nhiều bạn trẻ đến chương trình. Chị mong điều gì sẽ đọng lại trong họ?
– Có hai bạn trẻ đến từ Hòa Bình vừa tốt nghiệp cấp ba đã tìm gặp tôi và đặt ra những câu hỏi rất sâu sắc. Khi một bạn nói rất ấn tượng với tác phẩm về sử thi “Đẻ đất đẻ nước” của người Mường nên muốn tìm gặp, tôi rất xúc động.
Các bạn đến gặp tôi với trang phục chỉnh tề, trang nghiêm khiến tôi phải chỉn chu lại bản thân để tiếp đón.
Từ câu chuyện ấy, tôi nhận thấy chính các bạn trẻ đang tiếp sức cho tôi chứ không phải tôi tiếp sức cho các bạn.
Chúng tôi có thể có niềm tin, có trải nghiệm, nhưng nếu thiếu đi sự hào hứng, thiếu đi ngọn lửa và tình yêu tiếp sức từ thế hệ trẻ thì nghệ thuật sẽ dần lụi tàn.
Miễn là còn hơi thở, tôi vẫn sẽ tiếp tục ước mơ, tiếp tục yêu và khát khao sáng tạo như thế.
– Xin cảm ơn chị.
———–
Từ bảo tàng lưu giữ đến bảo tàng sáng tạo
Cuộc trò chuyện với Thu Trần gợi ra một vấn đề rộng hơn đối với Hà Nội – Thành phố sáng tạo: bảo tàng có thể giữ vai trò gì trong hệ sinh thái sáng tạo đô thị?
Trong định hướng được Bảo tàng Hà Nội và Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội công bố từ đầu năm, “Chiến tranh và Hòa bình” được xem như một thử nghiệm đưa hiện vật lịch sử vào đối thoại với nghệ thuật đương đại; đồng thời Bảo tàng Hà Nội được định hướng trở thành một điểm đến văn hóa sáng tạo của Thủ đô. Đến chương trình “Mạch nguồn di sản”, cách tiếp cận ấy tiếp tục được mở rộng: triển lãm, tọa đàm, âm nhạc và không gian bảo tàng cùng tham gia vào một trải nghiệm, thay vì tồn tại như những hoạt động tách biệt. Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội cũng xác định đây là một phần của hướng phát triển bảo tàng theo mô hình mở, đưa giá trị văn hóa đến gần cộng đồng bằng những hình thức sáng tạo và tương tác hơn.
Điểm đáng chú ý không nằm ở việc “hiện đại hóa” hiện vật bằng mọi giá. Những dấu tích vật chất của chiến tranh vẫn được giữ lại. Điều thay đổi là quan hệ giữa chúng với người nghệ sĩ và người xem. Hiện vật không chỉ kể một câu chuyện đã xảy ra; nó có thể trở thành điểm khởi đầu cho một cuộc đối thoại mới.
Đối với một Thành phố sáng tạo, đó là một chuyển dịch đáng quan tâm: từ coi bảo tàng chủ yếu là nơi lưu trữ quá khứ sang nhìn nó như một hạ tầng văn hóa, nơi ký ức, sáng tạo đương đại và công chúng có thể tiếp tục gặp nhau.
Và “Bông bầu, bông bí” là một thử nghiệm nhỏ nhưng khá rõ của hướng đi ấy.









