Đóng

Hà Nội: cộng đồng trở thành “hạ tầng sống” của di sản

Tại chương trình “Âm nhạc và Di sản”, Chèo, Tuồng, Ca trù không được đưa vào bảo tàng như những ký ức đã hoàn tất. Sáu câu lạc bộ từ các cộng đồng ngoại thành Hà Nội mang tới sân khấu những thực hành vẫn đang tồn tại trong làng xóm, được duy trì bằng hàng chục năm tập luyện, những lớp truyền nghề cho trẻ em và phần lớn là lao động tự nguyện. Từ đó hiện ra một lát cắt quan trọng của Hà Nội – Thành phố Sáng tạo: muốn di sản tiếp tục sinh ra giá trị mới, trước hết phải còn những cộng đồng thực hành nó.

Trình diễn Ca trù trong Chương trình “Âm nhạc và Di sản” tại không gian Bảo tàng Hà Nội. Ảnh: BTC

Tối 18/9, không gian Bảo tàng Hà Nội có một nhịp điệu khác. Nghệ nhân, diễn viên trong trang phục Chèo, Tuồng, Ca trù xuất hiện không chỉ trên sân khấu mà giữa công chúng. Người xem có thể tìm hiểu đạo cụ, nhạc cụ, cách hóa trang, thử trang phục trước khi thưởng thức các trích đoạn quen thuộc như “Quan Âm Thị Kính”, “Tấm Cám”, “Ngọn lửa Hồng Sơn”, “Trưng Nữ Vương đề cờ”, “Ngô Quyền định đô”.

“Âm nhạc và Di sản” nằm trong Festival Thăng Long – Hà Nội lần thứ II năm 2026, quy tụ sáu câu lạc bộ nghệ thuật truyền thống của Hà Nội, đại diện cho ba loại hình Chèo, Tuồng và Ca trù. Không gian được tổ chức theo hướng mở, để công chúng không chỉ xem biểu diễn mà có thể tiếp xúc trực tiếp với những người đang giữ nghề và những kỹ thuật phía sau sân khấu. 

Cách tổ chức ấy đáng chú ý trong một thành phố đang sở hữu gần 1.800 di sản văn hóa phi vật thể. Với một nguồn di sản lớn như Hà Nội, vấn đề không còn chỉ là thống kê, lập hồ sơ hay thỉnh thoảng đưa một tiết mục truyền thống lên sân khấu. Điều khó hơn là duy trì môi trường để di sản tiếp tục được thực hành, trao truyền và tạo ra công chúng mới. 

Những sân khấu nằm ngoài nhà hát

Câu chuyện của Câu lạc bộ Chèo Đông Anh cho thấy sân khấu của nghệ thuật truyền thống đôi khi bắt đầu rất xa các thiết chế biểu diễn chuyên nghiệp.

Bà Nguyễn Thu Bồi, người sáng lập câu lạc bộ, cho biết đơn vị được thành lập từ năm 2009, hiện có gần 50 diễn viên và nhạc công. Bên cạnh dựng lại các vở cổ như “Tấm Cám”, “Lưu Bình – Dương Lễ”, “Đôi ngọc lưu ly”, các thành viên còn tổ chức truyền dạy trong cộng đồng.

“Ở các trường học hay là ở các khóm tre bây giờ đều có những cái lớp chèo đồng ấu”, bà Bồi kể. Những nghệ nhân lớn tuổi đến với trẻ em, truyền lại làn điệu, cách hát và sự quen thuộc với Chèo ngay từ môi trường sinh hoạt hàng ngày. 

Đằng sau tiết mục khoảng vài chục phút trên sân khấu Festival là một nhịp sống khác. Nhiều thành viên vẫn phải đi làm; họ chỉ có thể tập vào buổi tối. Địa bàn rộng khiến việc đi lại mất thời gian, còn nguồn hỗ trợ vật chất cho hoạt động phong trào khá hạn chế. Để có hai trích đoạn trình diễn tại Festival năm nay, các thành viên phải tự sắp xếp công việc rồi tập trung luyện tập sau giờ làm. 

Như vậy, thứ công chúng nhìn thấy trên sân khấu thực chất là phần nổi của một mạng lưới văn hóa hoạt động quanh năm trong cộng đồng.

Vở chèo “Quan Âm Thị Kính”. Ảnh: BTC

Một đoàn Tuồng tồn tại bằng sự say mê

Ở Dương Cốc, câu chuyện lại bắt đầu từ một ký ức chiến tranh.

Bà Nguyễn Thị Hiền kể rằng khi Đoàn Tuồng Liên khu 5 sơ tán về Dương Cốc, người dân trong làng đi xem rồi học theo. Bà bắt đầu tham gia từ năm 16 tuổi và đã gắn bó với Tuồng gần nửa thế kỷ. Những người biểu diễn không phải nghệ sĩ chuyên nghiệp; phần lớn sống bằng nghề khác nhưng vẫn duy trì tập luyện qua nhiều thế hệ. 

Đoàn mang đến Festival trích đoạn “Ngọn lửa Hồng Sơn”. Do thời lượng biểu diễn giới hạn, một vở dài được rút thành khoảng 20 phút, nhưng để phần trình diễn ấy trở lại sân khấu, các thành viên vẫn phải tập lại trong nhiều tuần.

“Không có cái gì gọi là kinh tế đâu, nhưng mà chúng tôi cứ thích thế thôi”, bà Hiền nói về lý do mọi người tiếp tục đi tập, đi diễn. 

Trong đoàn, nhạc công cao tuổi nhất đã ngoài 90, diễn viên lớn tuổi khoảng 75, trong khi người trẻ nhất mới ngoài 20. Khoảng cách nhiều thế hệ ấy là một dữ liệu có ý nghĩa hơn số lượng buổi diễn: nó cho thấy tri thức sân khấu vẫn đang được truyền giữa những con người sống trong cùng một cộng đồng. 

Nhưng chính câu nói của bà Hiền cũng cho thấy sự mong manh của mô hình. Đam mê có thể giúp một nhóm nghệ thuật tồn tại hàng chục năm, song khó có thể là nguồn lực duy nhất để một di sản tiếp tục phát triển.

Các Diễn viên, nghệ nhân trình diễn vở Tuồng “Ngô Quyền định đô” tại chương trình “Âm nhạc và Di sản” tối 18/9. Ảnh: BTC

Khi bảo tồn bắt đầu bằng việc cho trẻ em chạm vào di sản

Câu lạc bộ Tuồng Lương Quy ở xã Thư Lâm đưa ra một cách tiếp cận khác: để người trẻ không chỉ xem mà trực tiếp trải nghiệm.

Nghệ nhân Nguyễn Thế Lộc đã theo Tuồng khoảng 35 năm. Gần 50 diễn viên, nghệ nhân của câu lạc bộ tham gia Festival với mong muốn giới thiệu “hồn cốt của cha ông” tới cả khán giả Việt Nam và khách quốc tế. 

Tại địa phương, các buổi giới thiệu Tuồng đã được tổ chức cho học sinh tiểu học và trung học cơ sở. Trẻ em tìm hiểu cách đeo râu, cầm kiếm, mặc trang phục, thử hát lối và đặt câu hỏi trực tiếp với nghệ nhân. Những trải nghiệm ấy khiến ông Lộc tin rằng lớp kế cận vẫn có thể hình thành.

“Không thể mất được! Bởi là các cháu là nguồn!”, ông nói khi kể về những học sinh đạp xe nhiều cây số tới gặp nghệ nhân để tìm hiểu Tuồng. 

Điểm đáng chú ý nằm ở việc vai trò của công chúng đã thay đổi. Trẻ em không chỉ là đối tượng cần được “giáo dục về di sản”, mà bắt đầu trở thành người thử hát, thử hóa trang, đặt câu hỏi và có khả năng tiếp tục thực hành trong tương lai.

Từ sân khấu cộng đồng đến Thành phố Sáng tạo

Festival Thăng Long – Hà Nội 2026 diễn ra từ ngày 11 đến 20/9 với chủ đề “Dòng chảy di sản – Heritage Flow”. Trong kế hoạch tổ chức, thành phố đặt ra yêu cầu tăng sự tham gia của cộng đồng, phát huy các không gian di sản và sáng tạo, đồng thời hướng tới khả năng tiếp tục khai thác các sản phẩm văn hóa sau Festival thay vì để hoạt động kết thúc cùng sự kiện. 

“Âm nhạc và Di sản” vì thế có thể được nhìn như một phép thử nhỏ của mục tiêu đó.

Bảo tàng không sản xuất Chèo hay Tuồng thay cho cộng đồng. Festival cũng không thể tạo ra một câu lạc bộ đã tồn tại hàng chục năm. Vai trò của thiết chế văn hóa nằm ở việc mở một không gian trung tâm của thành phố để những nhóm thực hành từ Đông Anh, Dương Cốc, Lương Quy, Lỗ Khê hay các địa phương khác gặp một lượng công chúng mà trong đời sống thường ngày họ khó tiếp cận.

Đây cũng là hướng đi phù hợp với cách Hà Nội đang diễn giải rộng hơn vai trò của một Thành phố Sáng tạo UNESCO. Đầu năm 2026, UNESCO nhận định cách tiếp cận của Hà Nội đang chuyển từ những sự kiện văn hóa riêng lẻ sang xây dựng một hệ sinh thái sáng tạo đô thị lâu dài, trong đó cộng đồng được đặt ở vị trí trung tâm. Di sản văn hóa và lực lượng trẻ được xem là hai nguồn lực quan trọng để phát triển hệ sinh thái này. 

Nếu đặt trong logic ấy, sáu câu lạc bộ xuất hiện tại Bảo tàng Hà Nội không chỉ là những đơn vị cung cấp tiết mục cho một chương trình nghệ thuật. Họ chính là một phần của hạ tầng văn hóa mà thành phố cần: những con người biết hát, biết diễn, biết hóa trang, biết chơi nhạc cụ và quan trọng nhất, biết truyền những kỹ năng ấy cho người khác.

Di sản sống cần một hệ sinh thái sống

Hà Nội đã có nhà hát, bảo tàng, lễ hội và ngày càng nhiều không gian sáng tạo. Nhưng với di sản phi vật thể, cơ sở vật chất chỉ là một phần của bài toán. Một làn điệu Chèo không thể được cất trong kho. Một ngữ khí Tuồng không tồn tại nếu không còn người biết hát. Một kỹ thuật trình diễn chỉ thực sự sống khi có người luyện tập, có người truyền dạy và có công chúng tiếp tục muốn tiếp nhận.

Bởi vậy, câu chuyện phía sau “Âm nhạc và Di sản” không chỉ là cách đưa nghệ thuật truyền thống tới gần người trẻ. Nó còn đặt ra một câu hỏi cho Hà Nội – Thành phố Sáng tạo: thành phố sẽ làm gì để những cộng đồng đang gìn giữ di sản bằng thời gian, công sức và phần lớn bằng sự tự nguyện có thể tiếp tục tồn tại?

Festival tạo cho họ một sân khấu. Bảo tàng tạo một điểm gặp với công chúng. Nhưng “dòng chảy di sản” chỉ thực sự tiếp tục khi sau ánh đèn của đêm diễn, những lớp chèo đồng ấu vẫn còn người dạy, những đoàn Tuồng làng vẫn còn nơi tập, và những đứa trẻ hôm nay vẫn muốn quay lại hỏi người nghệ nhân cách đeo một bộ râu, cầm một thanh kiếm hay cất lên câu hát đầu tiên.