
Kinh tế sáng tạo trong ngữ cảnh Hà Nội: từ vốn văn hóa đến năng lực kiến tạo giá trị mới
Một sản phẩm gốm có thể rất đẹp nhưng chưa chắc đã đi được tới thị trường. Một không gian di sản có thể đông khách nhưng chưa chắc đã trở thành một nguồn lực kinh tế. Một lễ hội có thể thành công về truyền thông nhưng chưa chắc đã để lại những quan hệ tiếp tục vận hành sau khi sân khấu được tháo dỡ. Với Hà Nội, câu hỏi của kinh tế sáng tạo vì thế không còn đơn giản là thành phố có bao nhiêu di sản, làng nghề, nghệ nhân hay hoạt động sáng tạo. Câu hỏi khó hơn là những nguồn lực ấy có nối được với nhau để tạo thành những dòng giá trị mới – và giá trị tạo ra có quay trở lại nuôi dưỡng chính con người, cộng đồng và vốn văn hóa đã sinh ra nó hay không.
Ở Kim Lan, nghệ nhân ưu tú Đào Việt Bình nhìn câu chuyện đổi mới của nghề gốm từ một điểm rất thực tế. Một ý tưởng mới, theo ông, không thể tách khỏi đất, men, lửa, kỹ thuật sản xuất và người sử dụng. “Sáng tạo phải dựa trên kế thừa, rồi mới phát triển thêm”, ông nói khi trao đổi với những người trẻ tiếp cận nghề gốm trong năm 2026. Quan trọng hơn, sản phẩm cuối cùng không chỉ cần mới hay đẹp: nó phải làm được, dùng được và có khả năng được thị trường tiếp nhận. [12]
Đó là một lát cắt nhỏ, nhưng chứa trong nó gần như toàn bộ bài toán của kinh tế sáng tạo: tri thức phải được hiểu; người giữ tri thức và người thiết kế phải gặp nhau; ý tưởng phải qua thử nghiệm; sản phẩm phải có khả năng sản xuất; thị trường phải xuất hiện; và nếu giá trị chỉ đi một chiều ra khỏi làng nghề mà không quay trở lại với nghề, chuỗi ấy khó bền vững.

Các nghệ nhân làm Gốm Kim Lan. Ảnh: hanoicreativecity.com
Từ tài sản văn hóa đến một vòng tạo giá trị
Kinh tế sáng tạo không bắt đầu từ việc biến mọi thứ thuộc về văn hóa thành hàng hóa.
UNCTAD định nghĩa creative economy như một khái niệm đang vận động, dựa trên khả năng của các tài sản sáng tạo tạo ra tăng trưởng và phát triển kinh tế – xã hội. Ở lõi của nó là sự gặp nhau của văn hóa, sáng tạo, tri thức, công nghệ và kinh doanh. [1] David Throsby, trong công trình về “vốn văn hóa”, nhấn mạnh một tài sản văn hóa có thể tạo ra các dòng lợi ích trong tương lai nhưng giá trị của nó không thể bị rút gọn vào giá bán. [2]
Sự phân biệt ấy đặc biệt quan trọng với Hà Nội. Văn hóa là không gian rộng nhất: nhiều thực hành văn hóa tồn tại vì ý nghĩa xã hội, cộng đồng, tinh thần hay lịch sử của chúng và không nhất thiết phải được thương mại hóa. Công nghiệp văn hóa là phần có thể nhận diện tương đối rõ qua việc sản xuất, phân phối và tiêu dùng các sản phẩm, dịch vụ văn hóa. Kinh tế sáng tạo rộng hơn một danh mục ngành: nó quan tâm tới cách tri thức, thiết kế, công nghệ, sở hữu trí tuệ và thị trường có thể làm phát sinh giá trị mới trong và giữa nhiều lĩnh vực.
Chính vì vậy, các con số về đóng góp GRDP của Hà Nội cần được đọc thận trọng. Năm 2018, nguồn công bố của Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội ước tính ngành công nghiệp sáng tạo đóng góp khoảng 1,49 tỷ USD, tương đương 3,7% GRDP thành phố. [4] Sang năm 2026, trong các văn bản và phát biểu chính sách chính thức lại xuất hiện những mốc khác nhau đối với công nghiệp văn hóa: Hội nghị triển khai nhiệm vụ ngành Văn hóa – Thể thao tháng 2 đặt mục tiêu 5% GRDP trong năm 2026 và tạo đà tới 9% năm 2030; mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của thành phố nêu 6% cho năm 2026 và 8% cho năm 2030; Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 17/3/2026 xác định mục tiêu khoảng 9% vào năm 2030. [5][6][7]
Không nên ghép những con số này thành một đường tăng trưởng 3,7 – 5 – 6 – 8 – 9%. Chúng xuất hiện ở những thời điểm, văn bản và hệ quy chiếu khác nhau; hơn nữa, chính hệ thống thống kê dành riêng cho công nghiệp văn hóa của Hà Nội chỉ mới được hoàn thiện trong năm 2026. Bộ chỉ tiêu mới nhận diện 11 ngành, gồm 62 chỉ tiêu chia thành bảy nhóm; năm 2026 được xác định là giai đoạn tính toán, kiểm chứng tính khả thi và độ tin cậy trước khi vận hành ổn định. [8]
Vì vậy, điều quan trọng hơn việc đặt các tỷ lệ cạnh nhau là hỏi: giá trị được tạo ra bằng cách nào?
Hà Nội không thiếu “nguyên liệu” cho câu trả lời. Ngày 1/10/2026, thành phố phê duyệt danh mục kiểm kê 2.098 di sản văn hóa phi vật thể thuộc sáu loại hình trên địa bàn 126 xã, phường. Đây không phải một bảng danh mục kinh tế, nhưng nó cho thấy độ dày của lớp tri thức, kỹ năng, tập quán và thực hành văn hóa mà thành phố đang sở hữu. [9]
Ở lớp hạ tầng sáng tạo, cuối năm 2025 Hà Nội trao chứng nhận cho 82 không gian văn hóa sáng tạo. Đến tháng 8/2026, mạng lưới đã kết nối với 11 trường đại học; gần 200 sinh viên và giảng viên được đưa tới năm làng nghề để nghiên cứu, cùng nghệ nhân phát triển sản phẩm. [10][11]
Những con số này rất đáng chú ý, nhưng 2.098 di sản không tự động trở thành 2.098 tài sản kinh tế. Tương tự, 82 không gian chưa tự động tạo thành một hệ sinh thái. Một mạng lưới không mạnh chỉ vì có nhiều “nút”. Nó mạnh khi giữa các nút có những quan hệ đủ chất lượng để tạo ra sản phẩm, thị trường, tri thức mới và những quan hệ tiếp tục tồn tại.
Khung Thống kê Văn hóa UNESCO 2025 cũng chuyển trọng tâm từ cách nhìn từng ngành riêng lẻ sang một “hệ sinh thái văn hóa và sáng tạo”, trong đó nghệ sĩ, nhà sản xuất, cộng đồng, công chúng và các trung gian công – tư cùng tham gia những quan hệ tạo ra nhiều dạng giá trị khác nhau. [3]
Có thể hình dung quá trình chuyển vốn văn hóa thành giá trị mới qua sáu mắt xích.
Đầu tiên là nhận diện và diễn giải nguồn lực. Trước khi một kỹ thuật, câu chuyện hay biểu tượng văn hóa đi vào thiết kế mới, cần hiểu nó thuộc về ai, hình thành trong bối cảnh nào và mang ý nghĩa gì.
Nhà sáng lập Direction, Đỗ Minh Trâm, gọi đây là điều kiện để tránh một cách tiếp cận ngày càng phổ biến: xem di sản như một kho hình ảnh sẵn có. Chị cho rằng “không nên coi văn hóa truyền thống, mỹ thuật truyền thống như một thư viện hình ảnh lớn và miễn phí để lấy họa tiết, hoa văn, hình khối sử dụng”. Trước khi hỏi một chất liệu “đẹp như thế nào”, người thiết kế cần hỏi nó xuất hiện ở đâu, được dùng trong hoàn cảnh nào, đại diện cho điều gì và vì sao người xưa tạo ra nó theo cách đó. [13]
Mắt xích tiếp theo là đồng sáng tạo. Nghệ nhân không chỉ là người gia công cho một bản vẽ đã hoàn tất; nhà thiết kế cũng không thể làm việc mà không hiểu vật liệu và giới hạn kỹ thuật. Kinh nghiệm của Đào Việt Bình ở Kim Lan hay nghệ nhân Nguyễn Thế Nghị ở Đào Thục cho thấy “cái gốc” của nghề không chỉ nằm ở hình thức nhìn thấy được. Với rối nước, chẳng hạn, phía sau con rối còn có thủy đình, âm nhạc, cơ chế điều khiển, lịch sử phường rối và đời sống cộng đồng. “Nếu các bạn muốn sáng tạo với rối nước, trước hết phải hiểu nó sinh ra từ đâu”, Nguyễn Thế Nghị nói với những người trẻ tiếp cận di sản. [14]
Sau đồng sáng tạo là tạo mẫu và tổ chức sản xuất. Một thiết kế đẹp chưa phải một sản phẩm kinh tế. Nó phải có khả năng làm được với chất lượng đủ ổn định, chi phí chấp nhận được, nguồn nguyên liệu có thể duy trì và quy trình có khả năng lặp lại.
Mắt xích thứ tư là quyền và phân chia giá trị. Ai sở hữu thiết kế? Ai được ghi nhận? Tri thức của nghệ nhân được trả công thế nào? Một sản phẩm dựa trên kỹ thuật truyền thống nếu bán tốt thì cộng đồng giữ tri thức ban đầu có tiếp tục hưởng lợi hay không?
Thứ năm là đường tới công chúng và thị trường: triển lãm, bán lẻ, du lịch, nhà mua hàng, thương mại điện tử, truyền thông, bảo tàng hay những hệ thống phân phối lớn. Đây không phải khâu nằm ngoài sáng tạo. Phản ứng của người sử dụng chính là dữ liệu để sản phẩm tiếp tục thay đổi.
Và cuối cùng là phản hồi và tái đầu tư. Doanh thu, dữ liệu thị trường và các quan hệ mới phải có khả năng quay trở lại giúp cải thiện sản phẩm, trả công người sáng tạo, đào tạo người kế cận và duy trì nguồn lực văn hóa.
Một di sản hoàn toàn có thể tạo doanh thu mà vẫn bị suy kiệt. Khác biệt nằm ở việc dòng giá trị có quay trở lại tái tạo nguồn lực ban đầu hay không.
Khi các mắt xích bắt đầu gặp nhau
Nhìn từ góc độ này, những mùa Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội trước đây có thể được xem như quá trình thành phố thử dần những “mối nối”. Năm 2021 là “Khơi nguồn sáng tạo – Sức sống mới cho di sản”; năm 2022 là “Thiết kế và Công nghệ”; năm 2023 với “Dòng chảy kết nối và Di sản sáng tạo” đưa hoạt động tới Nhà máy Xe lửa Gia Lâm và nhiều không gian công nghiệp – đô thị; năm 2024, “Giao lộ sáng tạo” đặt nghệ thuật đương đại trong đối thoại với kiến trúc di sản. Khi công bố mùa 2026, thành phố cũng nhìn bốn mùa này như một quá trình tích lũy: làm sống lại di sản, kết nối giới trẻ và cộng đồng, tụ hội nguồn lực và tạo tiền đề cho những chính sách mới về kinh tế sáng tạo. [10]
Bước chuyển ấy được Kế hoạch số 333/KH-UBND ngày 10/12/2025 xác định trực tiếp: từ “Tổ chức Lễ hội Thiết kế sáng tạo” sang “Xây dựng Hệ sinh thái sáng tạo đô thị”. Quy mô cũng được mở khỏi tác phẩm nghệ thuật hay sản phẩm thiết kế để đi vào thiết kế đô thị, không gian công cộng, cộng đồng, an sinh xã hội và những vấn đề đời sống của thành phố. [15]
Điều đáng chú ý là trong mùa 2026, một số hoạt động đã bắt đầu thử những quan hệ cụ thể thay vì chỉ tổ chức trưng bày.
Ở Chợ Đồng Xuân, giám tuyển Nguyễn Anh Tuấn và nhóm nghệ sĩ – nghiên cứu không bắt đầu từ việc chọn tác phẩm rồi tìm chỗ đặt. Từ cuối năm 2025, họ nhiều lần khảo sát chợ, thu thập hình ảnh, âm thanh, bản đồ, bản vẽ và phỏng vấn những người đang sống, làm việc trong chợ. Theo Nguyễn Anh Tuấn, ngoài các tiểu thương còn có người bốc vác, bảo vệ, lao công, người làm dịch vụ và nhiều nhóm khác tạo nên đời sống thực của không gian này. Triển lãm chưa diễn ra, nên chính giám tuyển cũng thận trọng: chưa thể biết công chúng trong chợ sẽ tiếp nhận nghệ thuật ra sao cho tới khi tác phẩm thực sự cùng tồn tại với nhịp sống hằng ngày. [16]
Đó là một cách tiếp cận phù hợp với logic kinh tế sáng tạo: không coi không gian đô thị như phông nền rỗng để “đặt sáng tạo vào”, mà phải nhận diện những quan hệ kinh tế, xã hội và văn hóa vốn đã tồn tại trong đó.
Ở quy mô hẹp hơn, Kết Duyên Sáng Tạo 2026 thử một chuỗi khác, tập trung vào làng nghề và phát triển sản phẩm. Ngày 29/8, Ban Tổ chức công bố 10 dự án được lựa chọn từ 57 sản phẩm, đề xuất của giai đoạn đầu. Mỗi dự án có thể nhận tối đa 50 triệu đồng trong giai đoạn phát triển thử nghiệm, trong đó tối thiểu 15% dành cho phí tri thức của nghệ nhân; các nhóm đồng thời làm việc với năm cố vấn để tháo gỡ vấn đề nghiên cứu, sản xuất và định hướng phát triển. [17]

BTC tặng hoa cho các dự án được lựa chọn trong Chương trình Kết Duyên Sáng Tạo 2026. Ảnh: hanoicreativecity.com
Điểm đáng quan tâm ở đây không phải chỉ là “10 dự án”. Đó là việc tri thức được thừa nhận như một phần có giá trị kinh tế; nghệ nhân được đặt ở vị trí đồng sáng tạo; sở hữu trí tuệ được đưa vào thảo luận trước khi sản phẩm đi xa hơn; và chương trình cố gắng nối ý tưởng với tạo mẫu, cố vấn, trưng bày rồi tiếp cận thị trường.
Nhưng giới hạn cũng phải được giữ rất rõ. Một dự án được chọn chưa phải một sản phẩm bán được. Một nguyên mẫu chưa phải năng lực sản xuất. Một lần trưng bày chưa phải thị trường. Và 10 dự án càng không thể được sử dụng như thước đo chứng minh chủ đề “Kinh tế sáng tạo” của Lễ hội năm nay đã thành công.
Lễ hội 2026 và Kết Duyên nên được nhìn như hai lớp thử nghiệm ở hai quy mô khác nhau: một bên thử xây những quan hệ ở quy mô đô thị, một bên đi sâu vào một đoạn của chuỗi phát triển sản phẩm. Giá trị của chúng hiện nay nằm ở khả năng tạo ra những quan hệ có thể quan sát, chứ chưa nằm ở kết luận hiệu quả cuối kỳ.
Ở một lĩnh vực đã có thị trường rõ hơn, nghệ thuật biểu diễn cho thấy một lát cắt khác của quá trình tạo giá trị. Trong tám tháng đầu năm 2026, sáu nhà hát trên địa bàn Hà Nội tổ chức 1.751 buổi biểu diễn, doanh thu khoảng 50 tỷ đồng. [18] Những con số này khác với lượng người dự lễ hội: chúng đã đi vào hoạt động cung ứng dịch vụ và doanh thu thực tế.
Thị trường cũng bắt đầu xuất hiện ở những hình thức khác. Tháng 6/2026, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội ký thỏa thuận hợp tác với LOTTE Department Store trong mỹ thuật, mỹ thuật ứng dụng, sự kiện văn hóa và xây dựng thương hiệu Hà Nội – Thành phố sáng tạo. [19] Ý nghĩa tiềm năng của sự hợp tác này không chỉ nằm ở việc một doanh nghiệp lớn tài trợ sự kiện. Nếu hệ thống bán lẻ có thể tham gia tuyển chọn, thử nghiệm thị trường, cung cấp dữ liệu người mua và đưa sản phẩm sáng tạo địa phương vào kênh phân phối, doanh nghiệp sẽ trở thành một mắt xích của chuỗi giá trị.
Thể chế mở đường, nhưng vận hành mới là phép thử
Năm 2025-2026 cũng tạo ra một tầng thể chế mới cho câu chuyện này. Nghị quyết 24/2025/NQ-HĐND quy định về tổ chức và hoạt động của trung tâm công nghiệp văn hóa; Nghị quyết 25/2025/NQ-HĐND tạo khung pháp lý cho khu phát triển thương mại và văn hóa. [20][21] Đây là những cơ chế quan trọng vì các loại thiết chế trung gian giữa văn hóa, sáng tạo, doanh nghiệp và thị trường được định danh rõ hơn trong hệ thống chính sách đô thị.
Tuy nhiên, ngay các báo cáo chính thức năm 2026 cũng cho thấy cần rất thận trọng với từ “đã có”. Một nguồn cho biết thành phố đã hoàn thành chỉ tiêu về thành lập năm trung tâm, khu phát triển công nghiệp văn hóa, thương mại và văn hóa; báo cáo kinh tế – xã hội tám tháng của Sở Tài chính lại ghi nhận việc triển khai ba Trung tâm công nghiệp văn hóa và hai mô hình kinh tế đêm trọng điểm. [11][18] Những con số này không nên được cộng trừ cơ học vì chúng đang nói tới các loại thiết chế và trạng thái khác nhau.
Một địa điểm được pháp luật cho phép thành lập, đã có quyết định, đang triển khai, đã tổ chức hoạt động thử nghiệm, đang vận hành thường xuyên và đã chứng minh hiệu quả kinh tế – xã hội là những trạng thái hoàn toàn khác nhau.
Vì vậy, việc “có thêm trung tâm” chưa đủ để kết luận hệ sinh thái mạnh hơn. Câu hỏi phải là những trung tâm ấy thực sự cung cấp được gì: không gian thử nghiệm, dịch vụ thiết kế, tư vấn sở hữu trí tuệ, sản xuất mẫu, đào tạo, ươm tạo, dữ liệu thị trường, phân phối hay vốn?
Thị trường cũng không thể tự cung cấp mọi thứ một hệ sinh thái cần. Tư liệu hóa một kỹ thuật có nguy cơ mai một là một khoản đầu tư dài hạn. Đào tạo người kế nghiệp có thể chưa tạo doanh thu ngay. Duy trì không gian nghề trong khu vực giá đất cao có thể kém hấp dẫn hơn chuyển mục đích sử dụng. Dữ liệu ngành, tiêu chuẩn dùng chung, tư vấn pháp lý sở hữu trí tuệ, hạ tầng nghiên cứu, giáo dục và bảo tồn là những “hàng hóa nền” mà từng doanh nghiệp riêng lẻ khó có động cơ cung cấp ở quy mô xã hội cần.
Vì thế, vai trò của khu vực công không phải làm thay doanh nghiệp. Nhà nước cần bảo vệ tài sản nền, đầu tư vào dữ liệu, di sản, giáo dục và hạ tầng, đồng thời giảm rủi ro ở những đoạn thị trường chưa đủ khả năng tự mở đường. Cộng đồng và nghệ nhân giữ, diễn giải và truyền tri thức. Trường đại học nghiên cứu, thử nghiệm và đào tạo nhân lực. Nhà thiết kế tạo ngôn ngữ mới. Doanh nghiệp đưa sản phẩm tới quy mô, thị trường và dòng tiền. Công chúng quyết định thứ gì thực sự được tiếp nhận vào đời sống.
Du lịch cũng là một phần của hạ tầng thị trường ấy. Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 xác định Hà Nội là một trong ba cực tăng trưởng du lịch của cả nước tới năm 2030, đồng thời nhấn mạnh phát triển du lịch phải lấy văn hóa làm nền tảng cốt lõi, bản sắc và chất lượng trải nghiệm làm lợi thế cạnh tranh. [22] Điều này mở một không gian thị trường lớn cho sản phẩm văn hóa – sáng tạo, nhưng cũng đặt ra yêu cầu không biến văn hóa thành lớp trang trí phục vụ tiêu dùng ngắn hạn.
Trường hợp thành phố Como của Italy cho thấy cả tiềm năng lẫn giới hạn của một hệ sinh thái dựa trên nghề truyền thống. Theo UNESCO, khoảng 70% lụa châu Âu được sản xuất tại khu vực Como; cụm này có khoảng 1.400 doanh nghiệp, hơn 15.000 việc làm và doanh thu ngành dệt ước 2,28 tỷ USD. Ở đó, tri thức nghề tồn tại cùng đào tạo, nghiên cứu, hóa học dệt, thiết kế, lưu trữ mẫu, sản xuất và thương mại trong một hệ vùng. [23]
Nhưng nghiên cứu dân tộc học công bố năm 2025 về chính Como lại cho thấy những vấn đề khác: khoảng cách giữa câu chuyện thể chế và đời sống sáng tạo thực tế, sức ép của du lịch – bất động sản lên không gian, và sự phân mảnh trong mạng lưới. [24]
Danh hiệu không tự tạo ra mạng lưới; trung tâm không tự tạo ra chuỗi giá trị; và một sự kiện đông người không tự tạo ra thị trường.
Đo điều gì còn lại sau Lễ hội?
Hà Nội đã bắt đầu xây công cụ trả lời câu hỏi này. Bộ 62 chỉ tiêu thống kê năm 2026 không chỉ đo doanh thu hay tỷ trọng GRDP mà còn bao gồm lao động và nguồn nhân lực, đầu tư và phát triển doanh nghiệp, năng lực sáng tạo và bản quyền, thị trường và thụ hưởng văn hóa, hạ tầng và di sản, quản lý nhà nước và các chỉ số tổng hợp. [8]
Đó là một bước tiến quan trọng. Nhưng đối với những chương trình thử nghiệm như Lễ hội Thiết kế Sáng tạo, Kết Duyên hay các trung tâm công nghiệp văn hóa mới, thống kê vĩ mô vẫn chưa đủ. Cần thêm một lớp dữ liệu ở cấp mối nối và chuỗi giá trị.
Sau Lễ hội 2026, việc hậu kiểm vì thế nên đi xa hơn số người tham dự, lượt truyền thông hay số hoạt động được tổ chức. Cơ quan tổ chức và điều phối cần có khả năng công bố những dữ liệu cụ thể: ngân sách hỗ trợ thực chi; phí tri thức thực tế đã trả cho nghệ nhân; số ý tưởng đi tới nguyên mẫu; số nguyên mẫu chuyển sang sản xuất; số thỏa thuận hoặc hợp đồng về sở hữu trí tuệ; số doanh nghiệp, nhà phân phối hoặc nhà mua hàng tham gia; đơn hàng mới và đơn hàng lặp lại; và đặc biệt là những quan hệ nghệ nhân – nhà thiết kế – trường đại học – doanh nghiệp còn tiếp tục sau 3, 6 và 12 tháng.
Cùng với đó phải là một câu hỏi khó hơn: nguồn lực gốc có được tái tạo hay không? Có thêm người học nghề? Có thêm nguồn lực cho nghiên cứu vật liệu và kỹ thuật? Không gian sáng tạo có tiếp tục tồn tại sau khi hỗ trợ đặc biệt kết thúc? Cộng đồng giữ tri thức có nhận được quyền, thu nhập và vị trí xứng đáng trong chuỗi giá trị? Hay di sản chỉ cung cấp chất liệu cho một vòng khai thác diễn ra ở nơi khác?
Chính ở đây, dữ liệu không còn chỉ là một công cụ báo cáo sau sự kiện. Dữ liệu trở thành một phần của hạ tầng sáng tạo, bởi nó cho biết mối nối nào hoạt động, mối nối nào gãy và nguồn lực công nên được đặt vào đâu.
Nhìn lại từ những mùa Lễ hội trước tới năm 2026, Hà Nội đã đi một quãng đáng kể. Thành phố đã thử đánh thức những không gian di sản và công nghiệp cũ; đưa nghệ thuật đương đại vào đối thoại với kiến trúc; tạo ra những điểm gặp cho cộng đồng sáng tạo; hình thành mạng lưới 82 không gian; kéo trường đại học tới gần làng nghề; mở những cơ chế pháp lý mới cho trung tâm công nghiệp văn hóa; thử kết nối doanh nghiệp bán lẻ với sáng tạo; và bắt đầu xây một hệ thống thống kê riêng để đo công nghiệp văn hóa.
Những viên gạch ấy là cần thiết. Nhưng chúng mới là các viên gạch.
Một nền kinh tế sáng tạo thực sự chỉ hình thành khi những nguồn lực đó nối thành những vòng vận động có khả năng tiếp tục: một kỹ thuật tìm được người học và người diễn giải mới; một nhà thiết kế tìm được người sản xuất; một sản phẩm tìm được thị trường; một doanh nghiệp nhìn thấy cơ hội để đầu tư; người giữ tri thức có quyền và lợi ích trong giá trị được tạo ra; phản hồi từ công chúng quay trở lại quá trình thiết kế; và một phần giá trị kinh tế quay lại giúp cộng đồng, nghề và không gian văn hóa tiếp tục sống.
Tăng trưởng, ở đây, không chỉ là làm chiếc bánh kinh tế lớn hơn. Nó còn là câu hỏi chiếc bánh ấy được tạo ra bằng cách nào, ai được tham gia tạo ra nó, ai nhận được phần giá trị và nguồn lực ban đầu có còn đủ sức sinh ra những giá trị tiếp theo hay không.
Nếu một chuỗi sáng tạo chỉ khai thác di sản mà không tái tạo di sản, phần tăng trưởng của hôm nay có thể chính là phần vốn bị rút khỏi tương lai. Ngược lại, khi tri thức tiếp tục được thực hành, người sáng tạo có thể sống bằng công việc của mình, doanh nghiệp có thị trường để đầu tư, công chúng có những sản phẩm và trải nghiệm có ý nghĩa, còn doanh thu, dữ liệu và những quan hệ mới quay trở lại nuôi một vòng sáng tạo tiếp theo, lúc đó văn hóa mới thực sự trở thành nguồn lực kinh tế mà không bị rút gọn thành hàng hóa.
Đó là khoảng cách giữa một thành phố có rất nhiều tài sản sáng tạo và một thành phố có một nền kinh tế sáng tạo thực sự vận hành.
Tài liệu tham khảo
- UNCTAD & UNDP. Creative Economy Report 2008: The Challenge of Assessing the Creative Economy: Towards Informed Policy-making. UNCTAD/DITC/2008/2. https://unctad.org/publication/creative-economy-report-2008-challenge-assessing-creative-economy-towards-informed
- Throsby, David. “Cultural Capital.” Journal of Cultural Economics, 23(1-2), 1999, pp. 3-12. DOI: 10.1023/A:1007543313370. https://doi.org/10.1023/A:1007543313370
- UNESCO Institute for Statistics. 2025 UNESCO Framework for Cultural Statistics, Part I: Concepts and Definitions. https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000395490
- Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội. “Xác định lĩnh vực có lợi thế, tiềm năng làm tiền đề phát triển Công nghiệp văn hóa Thủ đô.” Số liệu năm 2018. https://sovhtt.hanoi.gov.vn/xac-dinh-linh-vuc-co-loi-the-tiem-nang-lam-tien-de-phat-trien-cong-nghiep-van-hoa-thu-do/
- Cổng Thông tin điện tử thành phố Hà Nội. “Hà Nội phấn đấu phát triển công nghiệp văn hóa đóng góp 5% GRDP của Thành phố”, 04/02/2026. https://hanoi.gov.vn/tin-so-nganh/ha-noi-phan-dau-phat-trien-cong-nghiep-van-hoa-dong-gop-5-grdp-cua-thanh-pho-4260204185918228.htm
- Cổng Thông tin điện tử thành phố Hà Nội. “Hà Nội định hình mô hình tăng trưởng tốc độ cao – chất lượng tốt – thông minh – bền vững”, 14/01/2026; nêu mục tiêu tỷ trọng công nghiệp văn hóa 6% năm 2026, 8% năm 2030. https://hanoi.gov.vn/tin-tuc-su-kien-noi-bat/ha-noi-dinh-hinh-mo-hinh-tang-truong-toc-do-cao-chat-luong-tot-thong-minh-ben-vung-4260114111906419.htm
- Bộ Chính trị. Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 17/03/2026 về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới. https://baochinhphu.vn/nghi-quyet-cua-bo-chinh-tri-ve-xay-dung-va-phat-trien-thu-do-ha-noi-trong-ky-nguyen-moi-102260319210742274.htm
- UBND thành phố Hà Nội. Quyết định số 4034/QĐ-UBND ngày 05/08/2026 phê duyệt Đề án “Bộ chỉ tiêu thống kê về các ngành Công nghiệp văn hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội”; thông tin công bố về 11 ngành, 62 chỉ tiêu, 7 nhóm. https://thanhuyhanoi.vn/tin-tuc/dua-nghi-quyet-cua-dang-vao-cuoc-song/ha-noi-phe-duyet-de-an-xay-dung-bo-chi-tieu-thong-ke-ve-cac-nganh-cong-nghiep-van-hoa-50050748.html
- UBND thành phố Hà Nội. Quyết định số 5408/QĐ-UBND ngày 01/10/2026 phê duyệt Danh mục kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2026. https://sovhttdl.hanoi.gov.vn/phe-duyet-danh-muc-kiem-ke-di-san-van-hoa-phi-vat-the-tren-dia-ban-thanh-pho-ha-noi-nam-2026/
- Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội. “Công bố Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội 2026 và ra mắt Mạng lưới Không gian sáng tạo Hà Nội”, 11/12/2025. https://sovhtt.hanoi.gov.vn/cong-bo-le-hoi-thiet-ke-sang-tao-ha-noi-2026-va-ra-mat-mang-luoi-khong-gian-sang-tao-ha-noi/
- Báo Điện tử Chính phủ – chuyên trang Thủ đô Hà Nội. “Khơi dậy nguồn lực nội sinh từ văn hóa để phát triển Thủ đô”, 22/08/2026. https://thanglong.chinhphu.vn/khoi-day-nguon-luc-noi-sinh-tu-van-hoa-de-phat-trien-thu-do-103260822220446171.htm
- Hanoi Creative City. “Nghệ nhân Đào Việt Bình: Sáng tạo phải dựa trên kế thừa, rồi mới phát triển thêm”, 13/07/2026. https://hanoicreativecity.com/nghe-nhan-dao-viet-binh-sang-tao-phai-dua-tren-ke-thua-roi-moi-phat-trien-them/
- Hanoi Creative City. “Không phải thương hiệu nào cũng cần và nên sử dụng văn hóa truyền thống”, 2026. https://hanoicreativecity.com/khong-phai-thuong-hieu-nao-cung-can-va-nen-su-dung-van-hoa-truyen-thong/
- Hanoi Creative City. “Nghệ nhân Nguyễn Thế Nghị: Rối nước không chỉ là biểu diễn, mà là văn hóa đình làng trên mặt nước”, 12/07/2026. https://hanoicreativecity.com/nghe-nhan-nguyen-the-nghi-roi-nuoc-khong-chi-la-bieu-dien-ma-la-van-hoa-dinh-lang-tren-mat-nuoc/
- UBND thành phố Hà Nội. Kế hoạch số 333/KH-UBND ngày 10/12/2025 về tổ chức Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội năm 2026. https://datafiles.hanoi.gov.vn/gov-hni/6249/VanBan/2025/12/10/KH-333-2025.pdf
- Hanoi Creative City. “Nguyễn Anh Tuấn: Đưa nghệ thuật vào Chợ Đồng Xuân phải bắt đầu từ đời sống của chợ”, 28/08/2026. https://hanoicreativecity.com/nguyen-anh-tuan-dua-nghe-thuat-vao-cho-dong-xuan-phai-bat-dau-tu-doi-song-cua-cho/
- Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội. “Công bố 10 dự án nhận hỗ trợ phát triển sản phẩm trong khuôn khổ chương trình Kết Duyên Sáng Tạo 2026”, 30/08/2026. https://sovhtt.hanoi.gov.vn/cong-bo-10-du-an-nhan-ho-tro-phat-trien-san-pham-trong-khuon-kho-chuong-trinh-ket-duyen-sang-tao-2026/
- Sở Tài chính thành phố Hà Nội. “Tình hình phát triển kinh tế – xã hội tháng 8 năm 2026 của thành phố Hà Nội”; dữ liệu 8 tháng về 03 Trung tâm công nghiệp văn hóa, 02 mô hình kinh tế đêm, 1.751 buổi diễn và khoảng 50 tỷ đồng doanh thu của 06 nhà hát. https://sotaichinh.hanoi.gov.vn/tinh-hinh-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-thang-8-nam-2026-cua-thanh-pho-ha-noi-163544.html
- Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội. “Thúc đẩy hợp tác công – tư trong lĩnh vực văn hóa và nghệ thuật ứng dụng”, 06/06/2026. https://sovhtt.hanoi.gov.vn/thuc-day-hop-tac-cong-tu-trong-linh-vuc-van-hoa-va-nghe-thuat-ung-dung/
- HĐND thành phố Hà Nội. Nghị quyết số 24/2025/NQ-HĐND ngày 10/07/2025 quy định về tổ chức và hoạt động của trung tâm công nghiệp văn hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội. https://vbpl.vn/hanoi/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=180120
- HĐND thành phố Hà Nội. Nghị quyết số 25/2025/NQ-HĐND ngày 10/07/2025 về khu phát triển thương mại và văn hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội. https://vbpl.vn/hanoi/Pages/ivanban.aspx?Page=8&cqbh=401
- Bộ Chính trị. Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/08/2026 về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới; thông tin công bố của Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội. https://sovhtt.hanoi.gov.vn/nghi-quyet-26-nq-tw-ha-noi-la-mot-trong-3-cuc-tang-truong-du-lich-den-nam-2030/
- UNESCO Creative Cities Network. “Como – Creative City of Crafts and Folk Art.” https://www.unesco.org/en/creative-cities/como
- Raffa, Massimiliano. “Creative city narratives vs. lived realities: an ethnographic study of UNESCO designation in Como, Italy.” Frontiers in Communication, Vol. 10, 2025, article 1601820. DOI: 10.3389/fcomm.2025.1601820. https://www.frontiersin.org/journals/communication/articles/10.3389/fcomm.2025.1601820/full
Ghi chú dữ liệu: Các dữ liệu, ngày tháng, số hiệu văn bản và trích dẫn sử dụng trong bản xuất bản này được đối chiếu với nguồn chính thức hoặc nguồn học thuật có thể truy xuất, cập nhật đến ngày 07/10/2026. Các chương trình đang triển khai trong năm 2026 được mô tả theo trạng thái tại thời điểm khóa dữ liệu; bài không suy rộng dữ liệu tiến độ thành kết luận về hiệu quả cuối kỳ.
Nhóm tác giả: Nguyễn Trung Đại, Hà Kim Tuấn, Hoàng Thị Thùy Dung, Phan Như Quỳnh, Lê Hà Hoàng Minh









