Đóng

Hoàng Nghĩa Hoàng: “Gallery phải vừa nhìn bằng mắt người xem, vừa hiểu nghệ sĩ, vừa sống được với thị trường”

Gần ba thập kỷ sau khi Hanoi Studio Gallery bắt đầu hoạt động, thị trường nghệ thuật Việt Nam đã đi qua nhiều thay đổi: từ giai đoạn công chúng chủ yếu là người nước ngoài đến sự hình thành ngày càng rõ hơn của một lớp người xem, người mua và nhà sưu tập trong nước; từ câu chuyện bán tác phẩm đến những vấn đề như bản quyền, sở hữu trí tuệ và giá trị của lao động sáng tạo. Với Hoàng Nghĩa Hoàng, Giám đốc điều hành Hanoi Studio Gallery, một gallery tư nhân đứng ở vị trí đặc biệt trong dòng chảy ấy: vừa đồng hành với nghệ sĩ, vừa kể câu chuyện của tác phẩm với công chúng, đồng thời phải đủ gần thị trường để tồn tại.

Ông Hoàng Nghĩa Hoàng – Giám đốc điều hành Hanoi Studio Gallery. Ảnh: hanoicreativecity.com

Hanoi Studio Gallery bắt đầu hoạt động từ năm 1997. Hoàng Nghĩa Hoàng chính thức tham gia điều hành từ năm 2020, tiếp nối công việc của thế hệ trước. Với anh, gần ba thập kỷ tồn tại của một gallery không phải một đường thẳng, mà là những lớp thay đổi được bồi đắp theo thời gian: nghệ sĩ thay đổi, công chúng mở rộng, thị trường dần hình thành, còn gallery liên tục điều chỉnh cách lựa chọn, kể chuyện và kết nối.

Trong cuộc trò chuyện, Hoàng nhiều lần dùng từ “song hành”. Gallery, theo cách anh nhìn nhận, không đứng ngoài để phán xét nghệ sĩ, cũng không chỉ xuất hiện ở cuối quá trình để bán một tác phẩm. Nó có thể bắt đầu từ những cuộc trò chuyện, đi cùng nghệ sĩ qua nhiều giai đoạn, rồi tìm cách đặt công việc của họ vào mối quan hệ với người xem và thị trường.

Có những mối quan hệ ở Hanoi Studio đã kéo dài gần ba mươi năm – lâu đến mức, theo cách nói vui của Hoàng, “khéo tương đương với cả một cuộc hôn nhân”. Chính độ dài của những quan hệ ấy tạo ra một loại vốn mà gallery tư nhân có thể tích lũy: hiểu nghệ sĩ, hiểu công chúng và dần hiểu thị trường mà mình đang tham gia. 

“Công chúng không thay đổi hẳn, mà dày thêm”

Anh bắt đầu trực tiếp điều hành Hanoi Studio Gallery từ năm 2020. Nhìn từ thế hệ tiếp nối, anh thấy khái niệm và cách vận hành gallery đã thay đổi như thế nào so với thế hệ trước?

Tôi chính thức bắt đầu công việc này vào năm 2020. Nhưng một gallery vận hành qua nhiều giai đoạn và cũng có nhiều lần thay đổi, lột xác. Nếu nhìn rộng hơn thì cả ngành nghệ thuật cũng như vậy.

Khi Hanoi Studio bắt đầu vào năm 1997, Việt Nam vừa mở cửa với thế giới chưa lâu. Lúc đó chúng ta chưa thực sự có một ngành công nghiệp nghệ thuật rõ ràng. Vì vậy, bản chất công việc của gallery thời điểm ấy rất khác so với hiện tại.

Đến nay, sau gần ba mươi năm, chúng tôi có một tệp công chúng tương đối rộng, thuộc nhiều thế hệ. Nhưng tôi không nghĩ công chúng thay đổi theo nghĩa một lớp biến mất rồi một lớp khác thay thế hoàn toàn. Theo tôi, nó “dày” thêm.

Ngày trước có một thế hệ theo dõi một mảng riêng. Qua thời gian, gallery tiếp tục làm việc với nhiều nghệ sĩ, những lớp công chúng mới lại xuất hiện. Cứ như thế, tệp người theo dõi được bồi đắp dần. 

Là người điều hành thế hệ sau, anh có muốn đưa nhiều dấu ấn cá nhân của mình vào cách lựa chọn nghệ sĩ và xây dựng gallery không?

Trong công việc, tôi cố hạn chế đưa cái “tôi” của mình vào quá nhiều.

Đương nhiên mình vẫn có những tiêu chuẩn riêng trong việc lựa chọn nghệ sĩ hay những câu chuyện Hanoi Studio muốn kể. Nhưng tôi coi mình là một người song hành. Tôi phải nhìn công việc này bằng đôi mắt của người xem, bằng đôi mắt của người muốn kể một câu chuyện, và đồng thời cũng bằng đôi mắt của một người kinh doanh trong lĩnh vực nghệ thuật.

Những gì mình học hay trải nghiệm là của riêng mình. Tôi không muốn áp một cách hiểu quá cá nhân lên nghệ thuật. 

Từ công chúng quốc tế đến thị trường trong nước

Một góc trưng bày tại Hanoi Studio Gallery. Ảnh: hanoicreativecity.com

Trong những thay đổi Hanoi Studio đã đi qua, đâu là chuyển dịch khó nhất?

Tôi không nghĩ có một giai đoạn nào khó khăn đến mức phải gọi là khủng hoảng. Phần lớn là những thay đổi của thời cuộc mà mình phải thích nghi.

Khi gallery bắt đầu vào năm 1997, công chúng quan tâm đến nghệ thuật Việt Nam rất khác, phần lớn là người nước ngoài. Dần dần chúng ta hình thành một thị trường riêng và một lớp công chúng trong nước.

Khi đối tượng mình đang nói chuyện cùng thay đổi, gallery cũng phải thay đổi cách kể chuyện và cách tiếp cận. Một gallery từng hướng nhiều đến thị trường ngoài Việt Nam không thể giữ nguyên cách làm khi công chúng nội địa ngày càng rõ nét hơn. Một sự chuyển mình như vậy đương nhiên không dễ.

Điều may mắn của chúng tôi là có một bề dày. Qua nhiều năm, có những câu chuyện và những con người vẫn tiếp tục đi cùng. Tôi nghĩ đó là một trong những vốn quý nhất.

Còn với cá nhân tôi, điều giữ mình ở lại với công việc này vẫn là tình yêu dành cho nghệ thuật, dành cho nghệ sĩ và mong muốn được góp một phần vào dòng chảy nghệ thuật, văn hóa ấy. 

Có một nhận định khá phổ biến rằng người trẻ hiện nay quan tâm đến nghệ thuật nhiều hơn trước. Anh có nhìn thấy sự thay đổi đó từ phía gallery?

Tôi nghĩ rất khó kết luận như vậy.

Mười năm trước cũng có người trẻ yêu nghệ thuật. Hai mươi năm trước cũng có. Hiện tại, chúng tôi có người quan tâm và khách hàng ở nhiều độ tuổi.

Tôi thường không chia họ quá rõ thành “giới trẻ” hay một nhóm nào khác. Với chúng tôi, họ là những người yêu nghệ thuật. Việc ở một thời điểm nào đó người trẻ xuất hiện nhiều hơn hay ít hơn cũng có thể chỉ là cảm nhận cá nhân. 

Gallery không chỉ là một căn phòng treo tranh

Theo anh, một gallery tư nhân độc lập có thể đảm nhiệm vai trò gì mà những thiết chế văn hóa khác khó thay thế?

Trước khi nói đến công việc kinh doanh của một gallery, chúng tôi là những người bạn của nghệ sĩ.

Chúng tôi có thời gian ngồi với nghệ sĩ, nghe họ kể câu chuyện, hiểu công việc của họ và thực sự đi cùng họ trong quá trình làm nghệ thuật. Gallery tư nhân có một sự tự do nhất định để xuất hiện trong vai trò người bạn, người thân, người đồng hành.

Tôi không nói các đơn vị khác không thể làm được điều đó. Nhưng chúng tôi có điều kiện và quỹ thời gian để đi cùng nghệ sĩ theo một cách rất gần.

Mặt khác, chúng tôi cũng làm kinh doanh. Công việc đó đặt gallery sát với thị trường, với nhu cầu của công chúng và với thị hiếu.

Hai phía ấy phải cùng tồn tại: một mặt là hiểu nghệ sĩ và câu chuyện của họ; mặt khác là hiểu tác phẩm sẽ bước vào đời sống như thế nào. 

Hanoi Studio lựa chọn nghệ sĩ để đồng hành dựa trên những tiêu chí nào?

Mỗi gallery đều có những tiêu chí riêng. Nhưng nếu bắt tôi phải nói một tiêu chí lớn nhất thì tôi sẽ nói là chữ “duyên”.

Có thể có rất nhiều tiêu chí chuyên môn đi cùng, nhưng việc hai bên gặp được nhau và có thể bắt đầu làm việc với nhau trước hết đã là một cái duyên. Mà duyên thì đôi khi còn phải đi cùng “nợ” nữa. (Cười)

Một người mà Hanoi Studio rất tự hào khi được làm việc cùng từ những giai đoạn đầu là họa sĩ Trần Việt Phú. Thế hệ trước tôi đã bắt đầu làm việc với anh ấy khi gallery mới thành lập được khoảng một, hai năm, cũng là giai đoạn đầu trong hành trình nghệ thuật của anh.

Đến nay hai bên đã đi cùng nhau gần ba thập kỷ. Nói vui thì một mối quan hệ kéo dài chừng ấy thời gian cũng gần bằng một cuộc hôn nhân.

Có những nghệ sĩ mà với gia đình tôi và Hanoi Studio, họ thực sự giống như người nhà. Tôi nghĩ một gallery tư nhân có thể làm được điều đó vì chúng tôi có điều kiện đi chậm cùng nghệ sĩ trong một khoảng thời gian rất dài. Các thế hệ của gallery cũng luôn nghĩ đến việc tiếp nối những câu chuyện như vậy. 

Gallery có giới hạn mình trong một phong cách hay một số chất liệu nhất định không?

Hanoi Studio làm việc với rất nhiều chất liệu khác nhau. Chúng tôi không có cách tiếp cận kiểu nghe đến một chất liệu hoặc một ý tưởng nào đó rồi lập tức nói “không”.

Điều chúng tôi quan tâm là công việc của mình với nghệ sĩ có phù hợp cho cả hai phía hay không, và hai bên có thể tạo ra giá trị gì khi làm việc cùng nhau.

Đó mới là điều quan trọng. 

Một thị trường đang học cách coi trọng lao động sáng tạo

Tác phẩm “Đồ vật đối thoại” của hoạ sĩ Phùng Quốc Trí (sinh năm 1957), sơn dầu trên toan / Oil on canvas. Ảnh: hanoicreativecity.com

Khó khăn lớn nhất của một gallery tư nhân vận hành độc lập tại Hà Nội hiện nay nằm ở nhân lực, mặt bằng hay thị trường?

Tôi nghĩ vấn đề lớn nhất vẫn là thị trường nghệ thuật của chúng ta còn tương đối non trẻ nếu so với thế giới.

Một thay đổi mà tôi thấy rất đáng quý là trong những năm gần đây, xã hội bắt đầu nói nhiều hơn về bản quyền, sở hữu trí tuệ, giá trị sáng tạo và tính độc bản.

Trước đây, những người làm công việc như chúng tôi phải dành rất nhiều thời gian để giải thích tại sao một thứ có giá trị, tại sao một tác phẩm không đơn giản chỉ là một hình ảnh đẹp mà người khác có thể mang đi sao chép hay nhân bản.

Bây giờ, khi nói đến sở hữu trí tuệ, người ta bắt đầu nhìn thấy phía sau một tác phẩm là lao động chất xám của nghệ sĩ: thời gian nghiên cứu, học tập, trau dồi, kinh nghiệm và đôi khi cả những khả năng rất riêng của họ.

Những thay đổi ấy có thể không trực tiếp giải quyết một khó khăn cụ thể của gallery, nhưng chúng tạo ra nền tảng quan trọng. Khi xã hội bắt đầu coi trọng giá trị sáng tạo, nghệ sĩ và cả ngành sáng tạo đều có thêm điều kiện để phát triển. 

Anh đánh giá thế nào về khả năng thương mại hóa nghệ thuật đương đại Việt Nam so với các nước trong khu vực?

Tôi nghĩ là rất nhiều tiềm năng, nhưng vẫn còn một chặng đường khá dài.

Sự quan tâm của công chúng dành cho nghệ thuật đương đại hiện nay có những dấu hiệu tích cực, nhưng vẫn đang ở những giai đoạn đầu nếu so với các thị trường phát triển hơn trong khu vực.

Điều đáng mừng là công chúng và xã hội đang dần coi trọng hơn giá trị sáng tạo và tính độc bản. Theo tôi, đó mới là một nền tảng quan trọng để thị trường đi tiếp. 

Khi nghệ thuật bước ra khỏi gallery

Một góc trưng bày tại Hanoi Studio Gallery. Ảnh: hanoicreativecity.com

Hanoi Studio từng tham gia tư vấn nghệ thuật cho Lotte Mall West Lake. Một gallery bước vào một dự án thương mại như thế nào để nghệ thuật không đơn giản trở thành đồ trang trí?

Khi Lotte Mall West Lake được xây dựng, phía Lotte có mong muốn đây không chỉ là một trung tâm thương mại mà còn có yếu tố văn hóa.

Trong quá trình làm việc, Hanoi Studio không chỉ tư vấn họ “treo cái gì”, mà còn phải nghĩ “treo như thế nào”.

Nếu một không gian thương mại không có điều gì liên quan đến nghệ thuật Việt Nam hay văn hóa bản địa, nó rất dễ trở thành một trung tâm thương mại có thể xuất hiện ở bất kỳ đâu. Vì vậy, Hanoi Studio và Lotte bắt đầu công việc với mong muốn đưa thương hiệu gần hơn với văn hóa và cộng đồng sáng tạo bản địa.

Đó cũng là một ví dụ cho thấy công việc của gallery không nhất thiết kết thúc trong không gian gallery. 

Khi người sưu tập quốc tế không còn chỉ tìm một “Việt Nam của quá khứ”

Những nhà sưu tập quốc tế thường tìm đến nghệ thuật đương đại Việt Nam vì điều gì? Cách nhìn của họ có thay đổi không?

Có một sự thay đổi mà tôi cảm nhận khá rõ.

Trước đây từng có một xu hướng: khi đến với nghệ thuật Việt Nam, một bộ phận nhà sưu tập quốc tế tìm kiếm những mảnh ký ức về chiến tranh hoặc những câu chuyện mà họ coi là rất đặc thù của Việt Nam.

Bây giờ, cuộc chơi mang tính cảm xúc hơn.

Họ có thể quan tâm đơn giản vì họ thích một tác phẩm, vì tác phẩm khiến họ rung động. Họ không nhất thiết phải đến Việt Nam với một hình dung có sẵn về quá khứ nữa, mà có thể quan tâm đến chính người nghệ sĩ và tác phẩm của người đó.

Tôi cho rằng đó là một sự thay đổi dần dần nhưng đáng chú ý. 

Một gallery gần ba mươi tuổi

Tác phẩm sơn mài gỗ và chạm trổ chưa đặt tên của nghệ sĩ Phạm Tuấn Tú. Ảnh: hanoicreativecity.com

Trong bối cảnh Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội 2026, anh kỳ vọng điều gì từ những cuộc gặp giữa nghệ thuật, công chúng và các ngành sáng tạo?

Tôi rất vui khi được là một phần của một lễ hội như vậy.

Việc công chúng dành thêm sự chú ý cho dòng chảy nghệ thuật là một tín hiệu tích cực. Nó cũng tạo thêm động lực cho những người làm công việc như chúng tôi.

Tôi bắt đầu trực tiếp tham gia công việc này vào khoảng 2019–2020 và cũng đã trải qua những giai đoạn như COVID. Những trải nghiệm đó khiến tôi thấy trong nghệ thuật rất khó nói trước một điều gì quá chắc chắn. Điều quan trọng vẫn là tiếp tục làm công việc của mình tốt hơn. 

Năm tới Hanoi Studio bước tới cột mốc 30 năm. Anh nhìn cột mốc ấy như thế nào?

Nếu phải chọn một dấu mốc sắp tới mà tôi nghĩ sẽ rất đáng nhớ, chắc chắn là 30 năm Hanoi Studio.

Tôi vẫn thường nói về Hanoi Studio giống như một người em trai của mình. Người xưa có câu “tam thập nhi lập”. Khi một thứ đi đến tuổi ba mươi, nó bắt đầu có một độ trưởng thành và một bề dày nhất định.

Vì vậy, ba mươi năm sẽ là một cột mốc rất đáng nhớ đối với chúng tôi. Hanoi Studio cũng có những dự định riêng cho thời điểm đó. 

Còn mười năm tiếp theo?

Chúng tôi không bao giờ nói trước quá nhiều về tương lai.

Điều chúng tôi xác định là tiếp tục cố gắng làm tốt công việc của mình, hợp tác thêm với nhiều nghệ sĩ, đặc biệt là những nghệ sĩ trẻ.

Còn lại thì… “let it be” thôi.

Trong nghệ thuật, rất khó định nghĩa hay nói trước một điều gì đó quá to tát. 

Hanoicreativecity.com thực hiện

—————————–

Bài phỏng vấn được biên tập từ cuộc trao đổi với ông Hoàng Nghĩa Hoàng, Giám đốc điều hành Hanoi Studio Gallery. Một số câu hỏi và câu trả lời được rút gọn, sắp xếp lại theo chủ đề; từ đệm và phần lặp trong lời nói được lược bỏ nhưng không làm thay đổi nội dung quan điểm của nhân vật.